Trung Quốc – xã hội số không góc khuất

Một viễn cảnh giống như ở thì tương lai đang diễn ra tại Trung Quốc, phá vỡ cuộc sống thông thường. Chính quyền Trung Quốc gọi đó là “tín nhiệm xã hội” và nói rằng hệ thống này sẽ hoạt động một cách hoàn thiện vào năm 2020.

Tín nhiệm xã hội giống như một phiếu ghi điểm cá nhân cho mỗi công dân của quốc gia có 1,4 tỷ người này. Trong một chương trình thí điểm, mỗi công dân được chỉ định số điểm trong khoảng 800. Ở một chương trình khác là 900.

Camera theo dõi một con phố đông đúc ở Bắc Kinh, một phần của mạng lưới 200 triệu camera giám sát trên khắp Trung Quốc. 

Những người như Dandan, với “điểm số công dân” thuộc nhóm cao, cô sẽ nhận đãi ngộ VIP tại các khách sạn và sân bay, được cho vay với lãi suất thấp và dễ dàng vào học tại các trường đại học hàng đầu hay nhận công việc tốt nhất.

Những người ở nhóm điểm thấp phía dưới có thể bị đẩy ra ngoài vòng xã hội, bằng những cách như cấm đi du lịch, cấm vay vốn hoặc làm các công việc thuộc chính phủ.

Hệ thống chấm điểm này sẽ được thực thi bởi các hệ thống giám sát công nghệ cao và mới nhất, khi Trung Quốc đẩy mạnh việc trở thành đầu tàu của thế giới về trí thông minh nhân tạo. Các camera giám sát sẽ được trang bị khả năng nhận dạng khuôn mặt, quét cơ thể và theo dõi địa lý để liên tục để mắt theo dõi tới từng người dân.

AI có thể xác định danh tính, thông tin cá nhân của từng người đi trên phố. 

Các ứng dụng smartphone cũng sẽ được sử dụng để thu thập dữ liệu và theo dõi hành vi trực tuyến của từng người mỗi ngày. Bên cạnh đó, dữ liệu lớn từ nhiều nguồn truyền thống như hồ sơ của chính phủ, bao gồm cả đánh giá về an ninh giáo dục và y tế, hồ sơ tài chính… cũng được đưa vào để tính điểm số tín nhiệm của từng công dân.

Hệ thống tín nhiệm xã hội đang được thử nghiệm và ở các giai đoạn phát triển khác nhau tại ít nhất hơn một chục thành phố trên khắp Trung Quốc. Một số công ty cũng tham gia hợp tác với chính quyền để quốc hữu hóa hệ thống, phối hợp và hỗ trợ công nghệ, hoàn thiện các thuật toán để xác định điểm số công dân quốc gia.

Đây có lẽ là dự án kỹ thuật mang tính xã hội lớn nhất từ trước tới nay, để cố gắng kiểm soát và đưa cuộc sống của hơn một tỷ người vào nền nếp. Nếu thành công, nó sẽ là chế độ “độc tài kỹ thuật số” đầu tiên trên thế giới.

Trung Quốc - xã hội số không góc khuất (P4)

Dandan không phản đối viễn cảnh sống dưới mạng lưới giám sát toàn diện này. Người phụ nữ 36 tuổi này biết rằng tín nhiệm xã hội không phải là một hệ thống hoàn hảo nhưng cô tin rằng đó là cách tốt nhất để quản lý một quốc gia phức tạp với dân số lớn nhất thế giới.

“Tôi nghĩ mọi người ở mọi quốc gia đều muốn có một xã hội ổn định và an toàn”, cô nói. “Nếu như chính phủ của chúng tôi nói rằng mọi ngóc ngách của không gian công cộng đã được lắp đặt camera, tôi sẽ cảm thấy an toàn”.

Dandan cũng có thể hưởng lợi nhiều từ hệ thống này. Các hành vi tài chính của cô sẽ là một thước đo quan trọng đối với điểm tín nhiệm xã hội. Theo một ứng dụng đánh giá tài chính trên smartphone có tên là Sesame Credit, Dandan có số điểm tín nhiệm rất cao là 770 trên 800. Có thể nói cô là một công dân Trung Quốc kiểu mẫu và rất trung thành.

Một ứng dụng cho thấy điểm số tín nhiệm xã hội của Dandan là 773 trên 800, mang tới cho cô nhiều đặc quyền ưu đãi. 

Nhờ đánh giá này, Dandan đã có thể nhận được nhiều phần thưởng tương xứng. Ứng dụng trên điện thoại sẽ giúp cô được cấp một số đặc quyền như khi thuê xe hơi, đặt phòng khách sạn mà không cần đặt cọc.

Nhưng điểm tín nhiệm xã hội cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác, không chỉ liên quan tới các chi tiêu tài chính hay quyết định mua sắm. Thái độ, cách ứng xử của bạn bè hay người thân của mỗi người cũng sẽ ảnh hưởng tới điểm số này.  Ví dụ nếu người bạn thân nhất hoặc bố của bạn nói điều gì đó tiêu cực về chính phủ, điểm số này sẽ bị trừ. Người mà bạn hẹn hò và kết hôn cũng ảnh hưởng đến điểm tín nhiệm xã hội.

Dandan kết hôn vì tình yêu nhưng cô đã chọn được một người chồng phù hợp, ít nhất là theo “tiêu chuẩn kỹ thuật số”. Chồng cô Xiaojing Zhang, thậm chí có khả năng sở hữu số điểm tín nhiệm xã hội cao hơn cô. Anh là công chức trong bộ phận tư pháp, một cán bộ trung thành với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

“Chúng ta cần một hệ thống tín nhiệm xã hội”, Xiaojing nói. “Ở Trung Quốc, chúng tôi hy vọng mọi người có thể giúp đỡ lẫn nhau, yêu thương nhau và cùng trở nên thịnh vượng. Như chủ tịch Tập Cận Bình đã nói, chúng ta sẽ giàu mạnh, dân chủ, văn mình, hài hòa và tươi đẹp. Đó là hy vọng của chủ tịch Tập đối với tương lai của đất nước. Đó cũng là hy vọng của toàn bộ dân tộc Trung Quốc”.

Vì Dandan và Xiaojing là các bậc cha mẹ gương mẫu, con trai họ Ruibao, 2 tuổi, cũng sẽ được hưởng lợi từ điểm tín nhiệm xã hội cao của họ.

Trung Quốc từ lâu đã là một quốc gia nổi tiếng với hệ thống giám sát chặt chẽ, vì vậy người dân ở đây đã quen với việc chính phủ đảm nhiệm vai trò quyết định trong nhiều vấn đề cá nhân. Đối với nhiều người sống ở Trung Quốc, quyền riêng tư không được coi trọng như ở phương Tây.

Người Trung Quốc đề cao các giá trị cộng đồng hơn so với quyền cá nhân, vì vậy phần lớn đều cảm thấy rằng nếu điểm tín nhiệm xã hội có thể mang tới một cuộc sống an toàn và ổn định hơn, thì hãy áp dụng nó vào thực tế. Nhưng hầu hết mọi người dường như không hiểu được tín nhiệm xã hội sẽ có thể kiểm soát những gì và gần như không có cuộc tranh luận nào về việc triển khai hệ thống này tại Trung Quốc.

Tất nhiên, đã có một số tiếng nói bất bình trong tầng lớp trung lưu có học vấn về điểm số tín nhiệm xã hội này, khi chính quyền muốn coi nó là tiêu chí duy nhất để đánh giá một con người. Nhưng điều đó không khiến cho tiến trình áp dụng chúng vào thực tế bị chậm lại.

Liu Hu là một trong số họ.

Là một nhà báo điều tra, Hu đã mất nhiều điểm tín nhiệm xã hội của mình khi bị buộc tội vì các phát biểu cá nhân. Hiện ông bị đẩy ra ngoài vòng xã hội do điểm số quá thấp của mình.

Vào năm 2015, Hu được cho là đã mắc tội phỉ báng sau khi cáo buộc một quan chức tội ăn hối lộ. Ông được đề nghị phải xin lỗi và trả tiền phạt. Nhưng khi tòa án yêu cầu nộp thêm một khoản phí bổ sung, ông đã từ chối.

Năm ngoái, người đàn ông 43 tuổi này nhận ra mình bị đưa vào danh sách đen vì đã “không trung thực”, theo chương trình đánh giá điểm tín nhiệm xã hội thí điểm. “Có rất nhiều người không đáng bị đưa vào danh sách đen, nhưng họ không thể thoát khỏi”, Hu nói.

Điểm số này đã phá hủy sự nghiệp và cô lập ông. Giờ đây, ông bắt đầu lo sợ cho tương lai của gia đình mình. Hệ thống đã ngăn cấm Hu đi du lịch và giữ ông dưới sự quản thúc tại gia một cách đầy hiệu quả tại quê nhà Trùng Khánh.

Trong một căn hộ nhỏ, Liu Hu cố gắng sử dụng một ứng dụng điện thoại để đặt vé tàu đến Tây An. Nỗ lực này bị từ chối ngay lập tức. “Ứng dụng nói rằng không thực hiện được yêu cầu đặt vé và việc sử dụng hệ thống đường sắt cao tốc của tôi bị hạn chế về mặt pháp lý”, ông giải thích.

Tài khoản truyền thông xã hội của Hu, nơi ông xuất bản nhiều thông tin điều tra cá nhân, cũng đã bị đóng cửa. Ông cho biết tài khoản Wechat và Weibo của mình từng có hai triệu người theo dõi ở thời điểm đỉnh cao. Nhưng hiện nay chúng đang bị kiểm duyệt.

Liu Hu, một nhà báo, đã bị mất điểm tín nhiệm xã hội và đang bị “giam lỏng” một cách khéo léo ở quê nhà.

Hu đã cố gắng kháng cáo với các nhà chức trách. Nhưng cho đến nay, tất cả những gì đáp trả lại chỉ là sự im lặng.

Ông muốn cảnh báo thế giới về cơn ác mộng của tín nhiệm xã hội. Làm như vậy có thể khiến bạn bè và gia đình của ông có thể gặp khó khăn, nhưng Hu tin rằng hầu hết người Trung Quốc vẫn chưa hiểu những gì sẽ xảy ra dưới tình trạng “độc tài số”.

“Bạn có thể nhìn thấy nó từ trạng thái tinh thần của người dân Trung Quốc”. Hu nói. “Mắt họ bị mù và tai của họ đã bị bịt lại. Họ biết rất ít về thế giới và đang sống trong ảo giác”.

Advertisements
Đăng tải tại Tin Nước Ngoài, Tin Tức | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đền thờ An Dương Vương

Tương truyền, đền thờ An Dương Vương ở thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) được xây trên nền nội cung của kinh đô Âu Lạc ngày trước. Trong khuôn viên đền có hai hố được cho là mắt rồng, có đặc điểm rất lạ lùng…

Nằm ở vị trí trung tâm thành Cổ Loa, đền Thượng, tức đền thờ An Dương Vương là một ngôi đền thờ có vị trí lịch sử và tâm linh đặc biệt gắn với kinh đô của nhà nước Âu Lạc xưa.

Tương truyền, đền được trên nền nội cung của vua An Dương Vương ngày trước. Đến nay vẫn chưa rõ đền được xây từ bao giờ, chỉ biết công trình đã sửa chữa lại vào năm 1687, 1893 và gần đây đã được đại trùng tu.

Cổng đền được xây theo dạng tam quan bề thế. Bậc tam cấp trước cổng có đôi rồng đá là di vật đời Trần hoặc Lê sơ.

Sau tam quan là khu đền chính nằm trên nền đất cao. Phía trước là tòa nhà tiền đường, hai bên có hai cổng nhỏ.

Sau tiền đường là tòa thượng điện có kết cấu 5 gian. Hai bên thượng điện có hai dãy nhà phụ trợ làm nơi tiếp khách và sinh hoạt của người trông đền. Trước thượng điện là khoảng sân rộng, hai bên sân có hai dãy hãnh lang.

Không gian bên trong thượng điện tôn nghiêm với các ban thờ được bố trí theo trục dọc.

Trong cùng của thượng điện là hậu cung, nơi có một khám lớn bằng gỗ đặt ban thờ vua An Dương Vương.

Trung tâm của ban thờ là tượng vua An Dương Vương bằng đồng được đúc năm 1897, nặng 255kg.

Hai bên khám thờ vua An Dương Vương có ban thờ Hoàng hậu và ban thờ Mẫu.

Ban thờ thần Kim Quy trong đền.

Tòa bi đình nằm ở bên phải khu đền.

Đây là nơi lưu giữ các bia đá cổ, trong đó có ba bia khắc năm 1606.

Đặc biệt, trong khuôn viên đền thờ An Dương Vương có hai hố vẫn được cho là mắt rồng của thành Cổ Loa. Một hố luôn đầy ắp nước dù là mùa hạn, trong khi hố kia luôn khô cạn ngay cả những ngày trời mưa như trút.

Phía trước đền có một hồ hình bán nguyệt, giữa đắp bờ tròn tạo thành giếng Ngọc. Tương truyền, đây là nơi Trọng Thủy tự tử sau khi phản bội Mỵ Châu.

Hàng năm, hội đền cử hành vào ngày mồng 6 tháng Giêng và kéo dài trong khoảng 10 ngày, thu hút đông đảo du khách xa gần.

Đăng tải tại Hình Ảnh - Tư Liệu Lịch Sử, Phóng Sự - Ký Sự | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Alcor Life Extensions Foundation

Bên trong trụ sở chính của mình ở Arizona, Alcor Life Extensions Foundation hiện đang có hàng chục dewar dựng đứng như phim viễn tưởng. Khó có thể tin vào cuối thế kỷ 20, giữa một vùng ngoại ô nằm ngay rìa sa mạc Sonoran lại mọc lên một “hầm mộ” hiện đại như thế.

Bên ngoài những bức tường bê tông của Alcor, nhiệt độ có thể lên đến hơn 40oC suốt 8/12 tháng của năm. Nhưng ở bên trong, thi thể của giáo sư Bedford và khoảng 150 người khác luôn được giữ ở mức gần 200oC dưới 0, miễn là người thân của họ trả được những khoản phí duy trì thường niên.

Về cơ bản, tất cả thi thể ở đây sẽ được lưu giữ vĩnh cửu, hoặc cho đến một ngày, khoa học đủ quyền năng để đánh thức họ dậy.

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 1.

Giáo sư James Bedford đang nằm bên trong một túi ngủ cách nhiệt được nhúng ngập vào nitơ lỏng. Đó là những gì bạn không thể nhìn thấy, nhưng có thể tưởng tượng ra sau lớp vỏ nhôm của một trong những chiếc bình chân không gọi là “dewar” này.

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 2.
Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 3.

Bedford là một giáo sư tâm lý học, một cựu chiến binh trong Thế chiến thứ nhất. Ông đã từng sống trọn một cuộc đời đáng sống ở giữa thế kỷ 20, kết hôn 2 lần và đặt chân đến nhiều miền đất trên thế giới.

Hơn 50 năm trước, giáo sư Bedford là người đầu tiên trên Trái Đất được đông lạnh sâu với mục đích chờ hồi sinh.

Đó là một ý tưởng điên rồ, tưởng chừng chỉ có trong đầu những Pharaoh thời Ai Cập cổ đại, những người đã đứng trên đỉnh cao quyền lực khao khát được bất tử. Nhưng cho đến bây giờ, hàng trăm người đã theo giáo sư Bedford, đặt cho mình một chỗ trong hầm mộ bên rìa sa mạc của Alcor.

Họ đều là những người bình thường, một số đủ tiền thì đông lạnh toàn bộ cơ thể như giáo sư Bedford với giá khoảng 200.000 USD (tương đương 5 tỷ VNĐ), nếu không đủ thì chỉ đông lạnh phần đầu chứa não bộ với giá bằng một nửa.

Trong số họ không ai khao khát quyền lực cũng như sự bất tử một cách mù quáng, tất cả chỉ đang đặt niềm tin vào khoa học: Một ngày nào đó trong tương lai, sẽ có một nhóm người khoác áo blue trắng đến đánh thức họ dậy, để tiếp tục sống thêm một cuộc đời nữa.

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 4.

Cryogenics còn được gọi với cái tên cryopreservation, là kỹ thuật đông lạnh sâu một cơ thể chết hoặc các bộ phận cơ thể để bảo vệ chúng khỏi sự phân hủy.

Về mặt phát luật, đông lạnh sâu chỉ được thực hiện khi bệnh nhân đã chết. Khoảng thời gian lý tưởng để bắt đầu thủ thuật cryogenics là trong khoảng 2 phút sau khi tim bệnh nhân ngừng đập và không quá 15 phút sau đó.

Đầu tiên, thi thể được làm lạnh dần bằng băng và tiêm chất hóa học để giảm đông máu. Nó sẽ hạ nhiệt độ đến gần mức 0°C và máu được rút ra để thay bằng một dung dịch nhằm bảo vệ các mô và cơ quan.

Sau đó, các kỹ thuật viên tiêm trở vào thi thể một dung dịch khác để ngăn các tinh thể băng hình thành. Thi thể tiếp tục được làm lạnh thi thể xuống đến -130°C. Bước cuối cùng, các kỹ thuật viên di dời thi thể sang một bình chứa Nitơ lỏng. Ở đó, nó sẽ được hạ nhiệt độ xuống -196°C và bảo quản lâu dài.

Hiện tại, trên thế giới có 3 cơ sở đang cung cấp dịch vụ cryogenics. Ngoài Alcor ở vùng sa mạc Arizona còn có Viện Cryonics ở Michigan. Tại Nga, cryogenics có thể được thực hiện tại công ty KrioRus. Ngoài ra, ở Bồ Đào Nha cũng có một chi nhánh của Alcor có thể thực hiện kỹ thuật này.

Mức phí mà một người phải bỏ ra nếu muốn đông lạnh sâu toàn bộ cơ thể tại Alcor là khoảng 200.000 USD (tương đương 5 tỷ VNĐ).

Đối thủ của họ, Viện Cryonics đề xuất mức giá từ khoảng 35.000 USD (tương đương 977 triệu VNĐ). Trong khi nếu thực hiện thủ tục tại KrioRus của Nga, bạn sẽ mất 37.600 USD (tương đương 1,1 tỷ VNĐ).

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 5.
Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 6.

Là người được trao cho sứ mệnh cryogenics tiên phong (trong trường hợp ý tưởng hồi sinh thực sự thành công, còn nếu không lịch sử sẽ chỉ coi ông là một kẻ lập dị sống ở thế kỷ 20, như ánh mắt chúng ta nhìn những thầy tu và nhà ướp xác với ý tưởng bất tử viển vông hơn họ hơn 5.000 năm trước ở Ai Cập):

Bob Nelson, người thực hiện ca đông lạnh sâu đầu tiên trên thế giới cho giáo sư Bedford chỉ là một thợ sửa TV về hưu, thậm chí ông chưa từng học hết cấp 3.

Điều đã đưa Nelson đến với khoa học cryogenics là một cuốn sách của tiến sĩ Robert Ettinger, The Prospect of Immortality (Viễn cảnh bất tử).

Robert Ettinger là một giáo sư vật lý, ông mới chính là cha đẻ của ngành khoa học cryogenics. Trong cuốn sách của mình, tiến sĩ Ettinger đưa ra một giả thuyết cho rằng cái chết là một quá trình dần dần – con người có thể tìm cách đảo ngược cái chết để sống lại – với một điều kiện là thi thể của họ phải được đông lạnh để bảo quản trong điều kiện hoàn hảo nhất.

Năm 1965, sau khi Nelson đọc Viễn cảnh bất tử, ông luôn bị ám ảnh bởi một hình ảnh về những con kỳ nhông salamanders ở Siberia. Chúng có thể bị mắc kẹt trong lớp băng vĩnh cửu nhiều năm, nhưng ngay khi băng tan sẽ sống lại và hoạt động bình thường.

Nelson tự nghiên cứu về cryogenics, sau đó trở thành chủ tịch Hiệp hội Cryonics California vào năm 1966. Trong một buổi nói chuyện với các thành viên trong hội, Nelson lần đầu tiên gặp gỡ tiến sĩ Ettinger.

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 7.

Cùng thời điểm đó, giáo sư Bedford đang nằm trên giường bệnh ở tuổi 73. Ông bị mắc ung thư thận, căn bệnh đã di căn vào phổi nên ông biết mình không thể sống lâu hơn nữa. Cũng bị hấp dẫn bởi Viễn cảnh bất tử, giáo sư Bedford gửi thư cho tiến sĩ Ettinger nói rằng ông muốn được đông lạnh.

Thực ra ông ấy cũng không muốn trở thành người đầu tiên chút nào, nhưng bởi biết mình sắp chết, ông ấy đã thu xếp cho chuyện ấy – ông ấy đủ khả năng vì là một người rất giàu có“, Nelson thuật lại.

Chính tiến sĩ Ettinger đã thuyết phục ông tham gia vào phi vụ cryogenics này, cùng hai người khác có chuyên môn là Dante Brunol, một nhà sinh học người Ý và Robert Prehoda, một nhà hóa học Mỹ.

Hai ngày trước khi giáo sư Bedford qua đời, Nelson có đến gặp ông ấy. “Tôi đến bệnh viện cứ ngỡ rằng ông ấy đã hôn mê nhưng không, ông ấy vẫn tỉnh táo nên tôi đã tự giới thiệu mình“, Nelson nói.

“Ông có phải người sẽ thực hiện quy trình này không?“, giáo sư Bedford hỏi.

“Đúng vậy”.

“Ông Nelson này, tôi muốn ông biết một điều – tôi không hi vọng mình sẽ được hồi sinh, nhưng tôi sẽ làm điều này với hi vọng ngành khoa học phi thường này, một ngày nào đó, sẽ đem lại lợi ích cho con cháu tôi”.

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 8.

Ngày 12 tháng 1 năm 1967, giáo sư Bedford tử vong. Nelson và 2 chuyên gia khác lập tức vào việc. Họ làm lạnh cơ thể ông bằng nước đá, rút hết máu của ông ra ngoài và tiêm trở lại một chất chống đông sinh học gọi là dimethyl sulfoxide.

Bởi các thùng đông lạnh chưa kịp hoàn thiện, bộ ba quyết định phải bảo quản tạm thi thể của giáo sư Bedford ở đâu đó. Nelson đặt ông ấy vào một quan tài gỗ chứa đầy nước đá, nhấc lên thùng chiếc Ford bán tải của mình và chở về nhà ông ấy. Tuy nhiên, người vợ đầu của giáo sư Bedford không cho phép và dọa sẽ báo cảnh sát.

Nelson lại phải một mình lái xe bán tải chở thi thể của giáo sư Bedford đến giấu tạm ở nhà một người bạn ở hẻm núi Topanga. “Đó là thủ phủ của những người hippy“, Nelson nói. “Tôi đã lái xe dọc theo những con đường gập ghềnh, chở đằng sau một thi thể đông lạnh. Thật điên rồ! Bây giờ tôi hồi tưởng lại và thốt lên rằng Chúa ơi“.

Thi thể của giáo sư Bedford sẽ được lưu giữ vĩnh cửu, hoặc cho đến một ngày, khoa học đủ quyền năng để đánh thức ông dậy

Thi thể của giáo sư Bedford đã được bảo quản tạm ở Topanga trong hơn 2 tuần. Cùng thời gian đó, người vợ kế và con ông hoàn thành các thủ tục pháp lý cho hoạt động đông lạnh.

Sau khi dewar đầu tiên dành cho giáo sư Bedford được thiết kế xong, ông được chuyển trở lại Arizona và bảo quản tại đơn vị cryogenics đầu tiên, tập đoàn Thiết bị chăm sóc y tế Cryo-Care ở Phoenix.

Nhưng cuộc hành trình gian khổ vẫn chưa dừng lại. Sau 2 năm, giáo sư Bedford tiếp tục phải di chuyển đến cơ sở Galiso ở California. Một lần nữa, vào năm 1973, ông chuyển địa điểm và đến năm 1977 thì con trai ông đem thi thể cha về đặt tại nhà.

Năm 1982, Alcor Life Extension Foudation đồng ý tiếp nhận bảo quản thi thể giáo sư Bedford, ông được đưa đến yên nghỉ tại khu “hầm mộ” ở rìa sa mạc Sonoran.

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 9.

Năm 1991, Alcor quyết định mở dewar của giáo Bedford và kiểm tra tình trạng đông lạnh cho ông sau 24 năm. Cắt qua lớp phủ kim loại của chiếc bình, các kỹ thuật viên của Alcor nhìn thấy giáo sư Bedford trong một chiếc túi ngủ màu xanh nhạt, quấn vào một chiếc giá bằng dây nylon.

Họ chuyển ông đến một bồn nitơ lỏng phủ bọt polystyrene và bắt đầu khám cho ông. Các kỹ thuật viên cho biết giáo sư Bedford đã được bảo quản tốt, nhìn ông trẻ ra so với tuổi 73. Tuy nhiên, có một số vùng da trên ngực và cổ bị đổi màu và hai lỗ thủng ở trên cơ thể.

Mũi và miệng của giáo sư Bedford có mùi máu. Mắt ông mở hé và giác mạc có màu trắng phấn của băng. Nước đá chưa tan hết che khuất bộ phận sinh dục của giáo sư Bedford nhưng đôi chân ông đã lộ ra với chân phải vắt chéo lên chân trái.

Một số vết nứt trên bề mặt da đã được tìm thấy, nhưng nhìn chung, quá trình bảo quản cho giáo sư Bedford được coi là tốt. Các kỹ thuật viên ở Alcor sau đó gói giáo sư Bedford trở lại một chiếc túi ngủ mới và nhúng thi thể ông vào trong nitơ lỏng để tiếp tục… chờ đợi.

Thi thể của giáo sư Bedford được đưa trở lại một dewar mới và bảo quản cho đến này hôm nay tại Alcor

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 10.

Trong nửa thế kỷ qua, khoa học về cryogenics từng gặp nhiều thất bại ngoạn mục. Công nghệ đông lạnh từng không đủ mạnh khiến một số thi thể bị phân hủy.

Những thi thể này được kéo ra khỏi hầm mộ của thế kỷ 20, chất lên xe tải với đá khô để lại cho người thân họ những nỗi băn khoăn. Liệu có nên tiếp tục thực hiện di nguyện của người đã khuất hay là chôn cất họ tại thời điểm này?

Nhưng cũng từ những thất bại, các nhà khoa học cryogenics đã học được rất nhiều để cải tiến công nghệ của họ. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 350 thi thể người đang được đóng băng lại.

Ở nửa sau của mục đích – hồi sinh những thi thể – nhiều tiến bộ khoa học vẫn đang diễn ra. Năm ngoái, một nhà khoa học trẻ người Mỹ đã bắt đầu thắp lên những hi vọng.

Robert McIntyre tốt nghiệp từ Viện công nghệ Massachusetts lần đầu tiên đông lạnh sau đó phục hồi thành công bộ não của một động vật có vú, đó là một con thỏ trắng New Zealand. Sau khi rã đông, bộ não của thỏ được bảo tồn nguyên vẹn cả các khớp thần kinh, màng tế bào và cấu trúc nội bào của nó.

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 11.

Bên trong những bức tường bê tông của căn “hầm mộ”, thi thể của giáo sư Bedford và khoảng 150 người khác vẫn đang được giữ ở mức -196oC dưới 0.

Một nhóm nghiên cứu khác của Đại học Minnesota cũng đã phát triển được một kỹ thuật rã đông, có thể làm ấm thi thể hàng trăm độ mỗi phút mà không gây tổn hại cho các mô.

Nó đã vượt qua được một trong những thách thức khó khăn ban đầu của nửa sau cryogenics, đem các thi thể trở lại sự sống.

Trước đây, quá trình rã đông được cho là sẽ khiến tinh thể băng hình thành. Các tinh thể băng hết sức sắc nhọn, có thể đâm xuyên và làm hỏng các mô từng được bảo quản, khiến chúng nứt và thậm chí vỡ vụn.

Khi các tế bào bị tổn thương trong quá trình rã đông và biến thành “một đống hỗn độn”, chúng không thể chuyển đổi trở lại thành mô sống. Nó giống như việc bạn không thể biến trứng ốp la trở lại thành một quả trứng sống được.

Nhưng với kỹ thuật rã đông của Đại học Minnesota, điều này sẽ được ngăn chặn bằng một dung dịch nano cho phép làm ấm đều thi thể bằng từ trường ngoài. Hi vọng tiếp tục được thắp lên vào tháng trước, khi các nhà khoa học hồi sinh được một sinh vật sau hơn 42.000 năm đông lạnh trong băng vĩnh cửu, chứng minh những điều kì diệu vẫn có thể xảy ra.

Nửa thế kỷ của thi thể đông lạnh giữa sa mạc, người đàn ông ấy vẫn đang chờ được hồi sinh - Ảnh 13.

Những khó khăn trong bước đầu tiên để đưa người chết trở lại đang được giải quyết. Nhưng chúng ta phải thừa nhận, từ bây giờ đến thời điểm khoa học làm được việc đó vẫn còn cách một bước đại nhảy vọt.

Mặc dù vậy, mọi người đều có quyền hi vọng.

Vào thời điểm chúng tôi đóng băng giáo sư Bedford, con người còn chưa đặt chân lên mặt trăng, thủ thuật ghép tim chưa ra đời, không có GPS, không có điện thoại di dộng“, Bob Nelson nói.

Ai mà biết được 50 năm tới [khoa học công nghệ] sẽ mang lại cho chúng ta những gì? Tôi nghĩ hi vọng của ông ấy sẽ đến từ công nghệ nano, rồi cuối cùng sẽ có cách để hồi sinh ông ấy, chỉ là sớm hay muộn mà thôi“.

Đăng tải tại Phóng Sự - Ký Sự, Tin Nước Ngoài | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chim Tê Điểu

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 1.

Địa hình ở Vườn Quốc gia Budo-Su-ngai Padi miền nam Thái Lan rất dốc và hiểm trở. Bất cứ khi nào tiến thêm một bước về phía trước bạn hoàn toàn có thể bị mặt đất trơn trượt kéo lại phía sau.

Chưa kể, trong khu rừng ẩm ướt, rậm rạp này còn có đủ loại côn trùng. Chúng bay vo ve và sẵn sàng xâm nhập vào mũi, tai bất cứ lúc nào. Và nếu bạn đủ can đảm để dừng lại một chút ngó nghiêng xung quanh, bạn sẽ thấy cả một đội quân vắt lúc nhúc dưới chân, lộ rõ vẻ khát máu hướng về phía bạn, chờ chực một cơ may xâm nhập vào da thịt mà bám riết không thôi.

Những khó khăn hiển nhiên khi thâm nhập vào khu rừng nguyên sinh này chắc hẳn là “cái giá” mà tôi và những người bạn đồng hành phải bỏ ra để tận mắt chiêm ngưỡng loài chim quý hiếm có tên Tê Điểu hay Hồng hoàng mỏ cát.

Tiến sĩ Pilai Poonswad, một nhà khoa học bản địa kỳ cựu vốn nổi tiếng trong giới sinh học bảo tồn với danh xưng “Đại mẫu của chim mỏ sừng”, làm trưởng đoàn. Từ năm 32 tuổi cho đến nay đã 40 năm, bà Pilai Poonswad một lòng nghiên cứu về sinh thái và bảo tồn loài chim mỏ sừng.

Đi cùng đoàn chúng tôi còn có nhiếp ảnh gia Tim Laman. Anh thuộc nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Pilai Poonswad. Vì là người bản địa sống ở chân núi nên anh khá thông thạo địa hình, có thể mang vác nhu yếu phẩm và giúp cả đoàn dựng lều qua đêm.

Chúng tôi biết việc thâm nhập vào khu rừng nguyên sinh để tìm một loài chim vốn nổi tiếng với lối sống bí mật, nhút nhát là quấy nhiễu sự yên bình nơi đây, tuy nhiên, việc loài chim quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng rất lớn đã thôi thúc những bước chân của những người làm khoa học như chúng tôi.

Sau chặng đường dài, cuối cùng chúng tôi cũng đến được cái cây cổ thụ có bụi dương xỉ mọc bao quanh thân cây cao đến hàng chục mét. Lấp ló trong đám lá xanh là chiếc mỏ quen thuộc của một con Tê Điểu cái đang ấp trứng.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 2.

Một con chim Tê Điểu cái dành khoảng 5 tháng để ấp trứng và chăm con cho đến khi con non mọc lông.

Chúng tôi chờ đợi sự xuất hiện của con Tê Điểu đực mang thức ăn về cho tổ ấm của nó. Bởi trong thời gian ấp trứng, con cái sẽ không di chuyển trong vài tháng trời, mà ở khoảng cách này chúng tôi không thể tiếp cận nó để có những bức hình đẹp.

Thời gian chầm chậm trôi khi chúng tôi lặng yên chờ đợi con đực trở về. Dưới chân, những con kiến rừng khổng lồ vô tư bò lên chân chúng tôi. Những con đỉa đói vẫn không ngừng bám riết. Mặt trời đã lên cao nhưng cả đoàn vẫn bị cái ẩm ướt của đại ngàn bao bọc.

Tôi không phải là chuyên gia quan sát chim nhưng khu rừng nguyên sinh này quả thực là một nơi ngắm chim lý tưởng.

Sự tĩnh lặng vốn có của rừng núi bị phá vỡ bởi thứ âm thanh thể hiện quyền lực, báo hiệu sự trở về của con Tê Điểu đực. Whoosh-whoosh-whoosh!….

Chúng tôi nín thở! Chỉ còn cách vài cây nữa thôi con chim đực sẽ xuất hiện.

Và rồi trước mắt chúng tôi hiện lên hình ảnh của một “con khủng long biết bay”: Con chim lớn dài 4 mét (tính cả phần đuôi ở giữa), sải cánh rộng đến 2 mét đậu trên gụ cây, mỏ ngậm một con côn trùng lớn, cặp mắt tinh anh quan sát xung quanh.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 3.

Chim Tê Điểu đực ngậm côn trùng về cho gia đình của nó bằng chiếc mỏ đặc biệt nhất trong thế giới chim mỏ sừng.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 4.

Trong thời gian sinh nở và chăm sóc con, Tê Điểu cái sẽ ở yên trong hốc cây khoảng 5 tháng. Toàn bộ thức ăn đều được Tê Điểu đực cung cấp.

Rồi đột nhiên xung quanh lặng như tờ. Núi rừng lại trở lại vẻ điềm nhiên, yên tĩnh của nó khi con Tê Điểu đực tiến về tổ ấm của mình, nhả thức ăn cho con cái đang làm tròn nghĩa vụ của chim mẹ.

Chúng tôi như nín thở quan sát để không bỏ sót bất cứ hình ảnh sống động nào trước mắt, tựa hồ như nếu thở mạnh thôi cũng khiến loài chim có tinh thần cảnh giác cao này biến mất khỏi tầm mắt.

Về phần mình, tôi cứ thế nhìn chằm chằm vào chiếc mỏ khổng lồ của com chim quý. Nổi bật giữa bộ lông trắng đen là chiếc mỏ quý hiếm hơn ngà voi gấp 3 lần.

Chim Tê Điểu trưởng thành có thể nặng đến 3kg, nhưng chỉ riêng chiếc mỏ quyền quý này của chúng cũng đã chiếm 11% trọng lượng cơ thể.

Khác với tất cả 60 loài chim mỏ sừng khác trên thế giới trải rộng khắp châu Á và châu Phi – có sừng rỗng bên trong, Tê Điểu sở hữu mỏ sừng đặc, cứng chắc, có cùng cấu tạo giống sừng tê giác.

Nếu như loài Tê Điểu nói chung dùng chiếc mỏ cứng cáp này để tìm kiếm thức ăn là các loài côn trùng sống bên trong các thân cây mục rỗng, thì Tê Điểu đực dùng nó như một vũ khí quyền lực nhằm “đấu tay đôi” với con chim đực khác để tranh giành bạn tình.

Con Tê Điểu đực thả mồi nhanh chóng cho con cái rồi lại biến mất giữa những tán lá xanh của đại ngàn. Nó lên đường đi tìm mồi mới cho gia đình mình.

Tê Điểu là một loài chim hiếm. Người ta chỉ tìm thấy chúng sinh sống sâu trong các khu rừng ở Brunei, Indonesia, Malaysia, Myanmar và miền nam Thái Lan.

Ngoài sở thích ăn côn trùng, chim Tê Điểu còn thích ăn các loại quả, hạt trong rừng. Sau khi ăn, chúng làm vương vãi các loạt hạt giống khắp khu rừng, vô tình tạo nên sự đa dạng cho cây rừng, vì thế chúng còn được gọi với danh xưng “nhà nông chăm chỉ của núi rừng”.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 6.

Ngoài ăn côn trùng, Tê Điểu còn ăn quả, hạt. Việc làm vung vãi hạt vô tình tạo sự đa dạng cho cây rừng ở bán kính vài km. Nhờ thế, nó được gọi là “Nhà nông chăm chỉ của núi rừng”.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 7.

Các nhà khoa học đánh giá cao vai trò quan trọng của chim Tê Điểu trong vấn đề sống còn của rừng Đông Nam Á. Bởi, hiện trạng phá rừng nguyên sinh phục vụ các hoạt động của người đang khiến rừng ngày càng biến mất. Đổi lại, điều này cũng ảnh hưởng đến môi trường sống của loài chim quý hiếm này.

Điểm đặc biệt của loài Tê Điểu là chúng làm tổ rất cầu kỳ. Tổ của chúng phải được xây trên gụ rỗng của cây cổ thụ. Tuy nhiên, những cái cây này lại thuộc vào hàng lâu đời nhất và lớn nhất trong rừng – và do đó có giá trị cao với những người khai thác gỗ.

Hơn nữa, Tê Điểu còn sinh sản rất hiếm, mỗi năm chỉ đẻ trứng một lần và chỉ nuôi một con nhỏ. Theo tập tính, trong khoảng thời gian ấp trứng, con cái sẽ ở yên trong tổ khoảng 5 tháng cho đến khi con non mọc lông. Toàn bộ thức ăn cho cả gia đình trong khoảng thời gian này đều phụ thuộc vào con đực. Nếu Tê Điểu cha bị săn giết, cả gia đình của nó cũng chết theo!

Tê Điểu làm tổ trên cái cây cao nhất, cổ thụ nhất của rừng.

Trong văn hóa của người Đông Nam Á hàng nghìn năm qua, loài chim Tê Điểu có ý nghĩa vô cùng lớn. Chúng là linh vật thiêng liêng của người Kalimantan và người Dayak trên đảo Borneo.

Họ tin rằng, Tê Điểu là sứ giả linh thiêng của các vị thần, có sứ mệnh chở linh hồn người đã khuất sang thế giới bên kia. Hơn nữa, Tê Điểu còn đại diện cho hình ảnh của sự chung thủy và bền vững trong hôn nhân, gia đình. Giết chúng là điều cấm kỵ!

Thế nhưng,

Một trong những vấn nạn báo động khiến Tê Điểu có nguy cơ tuyệt chủng chính là nạn săn bắt loài chim quý này của bọn tội phạm.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 9.

Cách tổ chim Tê Điểu vài nghìn km về phía nam của khu rừng là một căn phòng của quan chức Indonesia chuyên giữ những sản phẩm săn trộm đã bị tịch thu từ bọn buôn bán động vật hoang dã. Bên trong căn phòng bày la liệt các thùng giấy chứa da hổ, ngà voi và hàng loạt mỏ Tê Điểu – phần quý hiếm nhất còn lại của những con chim quý bị giết hại.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 10.

Ngay từ năm 700, thương mại giữa Borneo và Trung Quốc dần trở nên nhộn nhịp. Vào năm 1371, mỏ sừng của chim Tê Điểu trờ thành loại “ngà” xuất hiện tại Trung Quốc lần đầu tiên như một tặng phẩm từ vương quốc Brunei.

Người Trung Quốc, vốn đã có tay nghề cao trong nghệ thuật chạm khắc voi ngà voi, đã chế tác những chiếc mỏ sừng Tê Điểu quý hiếm thành các tác phẩm nghệ thuật tinh xảo.

Cũng từ đó, khi nhu cầu “làm đẹp” của con người ngày càng cao thì nạn săn trộm Tê Điểu để lấy mỏ sừng đã xuất hiện ngày một nhiều khi các thương nhân người Hoa ráo riết thu mua chúng sau đó bán cho giới thượng lưu với giá đắt đỏ. Đến giữa những năm 1800 nhu cầu đã lan sang phương Tây và các nước châu Âu.

Nhẹ hơn ngà voi, dễ dàng chạm khắc hình ảnh tinh xảo thành mặt dây chuyền và các tác phầm nghệ thuật phức tạp nên mỏ sừng Tê Điểu trở thành món hàng được săn lùng nhiều nhất ở châu Á.

Đối với các tầng lớp giàu có ở Trung Quốc, Nhật Bản, các vật dụng có mặt của “Tam quý” (là răng nanh hổ, vảy tê tê và mỏ sừng Tê Điểu) là dấu hiệu của tiền bạc, giàu có, quyền lực và sự sang trọng. Ở Anh thời thế kỷ 19, những trang sức, vật dụng có sự xuất hiện của mỏ sừng Tê Điểu trở thành xu hướng thời trang thời thượng của giới quý tộc nước này.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 12.

6.000 con Tê Điểu bị giết hại mỗi năm nhằm phục vụ cho lòng tham của con người!

Tính cho đến nay, giá của mỏ sừng Tê Điểu không hề rẻ, mỗi một kg sừng có giá khoảng 6.150 USD, cao gấp 3 lần giá của ngà voi.

Chỉ tính từ năm 2012 đến 2014, có khoảng 1.111 đầu chim Tê Điểu tịch thu từ bọn buôn lậu riêng tại tình Tây Kalimantan (Indonesia). Nhà nghiên cứu về chim mỏ sừng Yokyok Hadiprakarsa thuộc Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã phi lợi nhuận (WCS) Indonesia ước tính, khoảng 6.000 con Tê Điểu bị giết hại mỗi năm nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người.

Các nhà khoa học không thể thống kê còn bao nhiêu con chim Tê Điểu sinh sống trong tự nhiên hiện nay, nhưng rõ ràng, họ đang lên tiếng mạnh mẽ để bảo vệ sự tồn tại của loài chim cực kỳ quý hiếm này.

Khi nhu cầu của con người càng cao thì nạn săn trộm ngày càng tăng mạnh. Điều này dẫn đến sự biến mất về số lượng của loài chim vốn đã sinh sản hiếm, từ gần bị đe dọa đến cực kỳ nguy cấp, có khả năng tuyệt chủng trong tự nhiên, theo công bố của Sách Đỏ IUCN.

Đoàn chúng tôi gặp gỡ một thợ săn người dân tộc Dayak. Được anh này mời về nhà tại một ngôi làng ở tỉnh Tây Kalimantan.

Chúng tôi ngồi trên sàn của một phòng khách hiện đại. Trên tường có treo những bức hình kể lại quãng thời gian làm việc của anh từ một bảo vệ đến đầu bếp ở xứ người. Sau cùng, anh trở về quê hương, lập gia đình và chuyển sang làm thợ săn – nghề mà anh nghĩ vừa tự do và kiếm được kha khá cho gia đình.

“Tôi kiếm được khá từ việc buôn bán cá và lợn rừng dọc vùng biên giới Malaysia. Mỏ sừng Tê Điểu mà các anh nhìn thấy trong phòng khách là quà tặng của cánh thợ săn bạn tôi, cả hai hộp sọ tê giác bên cạnh nữa. Tôi không giết hại và ăn thịt chúng như các thợ săn khác. Điều đó thật tàn nhẫn.”

Khi tôi hỏi về việc có bán chiếc mỏ sừng Tê Điểu không, anh này nhún vai và nói rằng, những thương nhân đến làng này đều “chê” vì nó quá nhỏ.

Trước năm 2012, anh này tiếp lời, không ai trong làng săn giết Tê Điểu cả nhưng gần đây, dân làng bắt đầu tìm kiếm các con chim Tê Điểu trưởng thành sau khi biết giá trị của chiếc mỏ sừng. Khi bắt được một con chim ưng ý, họ tiến hành chặt đầu con chim rồi mang về nhà cho vào nồi nước nóng để dễ dàng tách phần mỏ sừng với các phần còn lại của đầu com chim.

“Tôi không biết chuyện gì diễn ra tiếp theo sau khi những cái mỏ sừng Tê Điểu được thương gia bên ngoài đến mua nhưng những tay buôn bán động vật hoang dã rỉ tai nhau rằng, thương gia thu mua mỏ sừng Tê Điểu từ làng này sang làng khác với các kích cỡ phù hợp và bán lại cho các bên trung gian. Mỗi lần qua tay người bán là mỗi lần giá lại đội lên rất cao. Cuối cùng, những khách hàng ở Trung Quốc vẫn sẵn sàng trả giá đắt đỏ cho những gam mỏ sừng Tê Điểu, tất nhiên với giá cao hơn giá của ngà voi gấp vài lần.”

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 13.

Tại Vườn Quốc gia Budo-Su-Ngai Padi, Tiến sĩ Pilai Poonswad đã phát triển một dự án tâm huyết nhằm bảo vệ loài chim mỏ sừng. 40 năm nghiên cứu về loài chim mỏ sừng, bà hết lòng mong muốn bảo vệ sự tồn tại của loài chim hiếm có này.

Nước mắt chim Tê Điểu: “Báu vật sống” bị săn lùng vì có chiếc mỏ đắt gấp 3 lần ngà voi - Ảnh 14.

Tiến sĩ Pilai Poonswad đã thành lập Quỹ Bảo tồn chim mỏ sừng. Số tiền trong quỹ được bà gửi cho những người dân sống gần khu rừng (trong đó có Asae Jaru) để họ bảo vệ loài chim quý hiếm này cũng như góp sức ngăn chặn nạn săn giết của bọn trộm.

Năm 1995, Tiến sĩ gặp Asae Jaru, một tay săn trộm mỏ sừng Tê Điểu chuyên bán cho thương gia bên ngoài. Asae Jaru kể lại rằng, chỉ với 2 cái mỏ sừng chim Tê Điểu, anh này có thể thu được số tiền bằng cả năm làm nông.

Sau khi nói chuyện với Tiến sĩ Pilai Poonswad và tận mắt chứng kiến sự bỏ đi của loài chim hiếm tại khu vực mình săn giết, Asae Jaru từ bỏ việc săn giết và trở thành “cánh tay phải” đắc lực cho nữ Tiến sĩ.

Tính đến đầu năm 2018, gần 40 người thuộc 6 ngôi làng gần rừng, trong đó có khá nhiều người từng săn giết trộm chim mỏ sừng, tham gia chương trình bảo vệ loài chim quý của Tiến sĩ Pilai Poonswad.

Tại Indonesia, điểm nóng của nạn săn giết chim Tê Điểu, một tổ chức phi lợi nhuận có tên Rangkong Indonesia cũng triển khai chương trình bảo vệ Tê Điểu tương tự của Tiến sĩ Pilai Poonswad tại chính các ngôi làng ở tỉnh Tây Kalimantan.

Tổ chức có nhiệm vụ theo dõi và ghi lại dữ liệu về loài chim mỏ sừng với mục đích cao nhất là thiết lập một chương trình du lịch sinh thái ngắm chim tại đó.

Chính phủ Indonesia cũng đã ký kết một kế hoạch hành động quốc gia 10 năm để bảo tồn loài chim Tê Điểu. Trong đó bao gồm việc nghiên cứu, giám sát song song việc tăng cường thực thi pháp luật để bảo vệ loài Tê Điểu.

Trên thế giới, hiếm có khu vực nào như ở Đông Nam Á sở hữu loài chim quý hiếm, dài 4 mét (tính cả phần đuôi ở giữa) với cái mỏ cứng, đặc và tuyệt đẹp như thế giữa đại ngàn. Tôi vẫn không phải là một nhà quan sát chim muông, nhưng có điều này tôi phải nói với bạn rằng, khi đã đến đây và tận mắt ngắm nhìn Tê Điểu, bạn sẽ hiểu việc băng rừng là không hề vô ích!

Đăng tải tại Phóng Sự - Ký Sự | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

“Life of Pi” phiên bản đời thực

Người đàn ông lênh đênh trên biển suốt 133 ngày

Vào sáng ngày mùng 5 tháng Tư năm 1943, cách khoảng mười dặm ngoài khơi bờ biển Brazil, một gia đình đánh cá phát hiện người đàn ông Trung Quốc đang lênh đênh trên chiếc bè gỗ nhỏ nhấp nhô giữa lòng Đại Tây Dương.

Khi thấy anh ta cuống quít ra hiệu bằng một chiếc áo sơ mi và nhảy nhót không ngừng, gia đình Brazil nhận ra người đàn ông nọ đang gặp khó khăn nên quyết định quay thuyền của họ lại để đón anh ta.

Life of Pi phiên bản đời thực: Người đàn ông lênh đênh trên biển suốt 133 ngày, bắt hải âu, giết cá mập để sinh tồn - Ảnh 1.

Poon Lim – người sinh tồn lâu nhất trên biển mà nhân loại từng được chứng kiến.

Leo lên tàu, anh chàng tỏ ra rất vui mừng và đói bụng; tới mức anh ấy ăn bất cứ thứ gì mà gia đình nọ đưa cho. Sau ba ngày, họ đến Belem, Brazil, một thị trấn ở cửa sông Amazon.

Các nhà chức trách đã đợi sẵn để đón người đàn ông Trung Quốc tên Poon Lim này. Anh đã lênh đênh trên biển trong suốt 133 ngày, điều mà chưa từng có ai làm được trong suốt chiều dài hàng trăm năm lịch sử hàng hải của nhân loại.

Sinh ra ở đảo Hải Nam, Trung Quốc, Biển Đông, Poon Lim được cha mẹ cho đi học – không giống như nhiều đứa trẻ khác cùng tuổi – nhờ có những người anh của mình gửi tiền kiếm được từ công việc tại các nhà máy.

Năm Lim 16 tuổi, đứng trước sự bành trướng của Đế quốc Nhật Bản, đồng thời do cha của anh tin rằng Lim sẽ có một cuộc sống tốt hơn ở một nơi khác, Lim được gửi đến làm việc ở một tàu biển Anh Quốc, làm chân phụ việc lặt vặt trong cabin.

1. Cuộc sống trên biển của Poon Lim

Lim ban đầu bị say sóng, chóng mặt và liên tục bị các thủy thủ trên tàu trêu chọc. Bị phân biệt đối xử, được giao cho những công việc tồi tệ nhất và sống tạm bợ ở những khu nhà chật chội, đây không phải là cuộc sống tốt đẹp hơn mà Poon hay cha anh hình dung ra.

Anh trai của anh cố gắng trấn an em mình rằng “Ít nhất, các sĩ quan Anh không đánh đập chúng ta.”

Lim bỏ việc vào khoảng năm 1937/1938 và chuyển đến Hồng Kông để ghi danh vào học một lớp cơ khí. Sau sáu tháng, biển lại gọi tên anh. Người anh họ của Lim nói với anh về những điều kiện hàng hải đã được cải thiện và quan trọng nhất là lương đi biển đã cao hơn nhiều.

Thêm vào đó, người Nhật đã sẵn sàng đánh chiếm Hồng Kông vào bất cứ lúc nào và Lim không muốn ởlại Hồng Kông khi điều đó xảy ra. Vì vậy, anh đã ký hợp đồng làm việc trên tàu SS Benlomond để rồi một lần nữa ra khơi, bắt đầu chuyến đi định mệnh của cuộc đời mình.

Life of Pi phiên bản đời thực: Người đàn ông lênh đênh trên biển suốt 133 ngày, bắt hải âu, giết cá mập để sinh tồn - Ảnh 2.

Một tấm ảnh chụp gia đình của Poon Lim.

SS Benlomond bắt đầu hành trình của mình tại Cape Town vào ngày 10 tháng 11 năm 1942 và băng qua Đại Tây Dương trên đường tới Suriname (thuộc địa trồng rừng của Hà Lan ở Nam Mỹ) trước khi đến New York.

Benlomond được biết đến như là một “con tàu chở khách” không có lịch trình cố định và cũng không được phép nhập cảng. Đồng thời, nó cũng được trang bị vũ khí đầy đủ, nhưng do di chuyển quá chậm chạp mà nó lại trở thành một mục tiêu của bọn hải tặc.

Vào ngày 23 tháng 11, khoảng 11 giờ 30 phút, tàu của Lim trúng ngư lôi bởi một chiếc thuyền U-Boat của Đức quốc xã.

Con tàu chìm nghỉm trong vòng hai phút; 56 người đã thiệt mạng, trong đó có 34 người Anh và 22 người Trung Quốc, chỉ có một người đàn ông duy nhất sống sót. Người đó chính là Poon Lim.

Trong cuộc oanh kích, Lim vẫn đủ bình tĩnh với lấy một chiếc áo phao cứu sinh rồi bơi từ con tàu chìm ra ngoài.

Anh ta bị phát hiện trên mặt nước bởi tàu U-Boat của Đức Quốc xã, nhưng quân chữ thập ngoặc mặc kệ vì nghĩ rằng thế nào anh cũng sẽ chết trong vùng nước tối tăm và lạnh lẽo này thôi.

Poon Lim tìm được một chiếc bè bằng gỗ, vốn được dùng để cứu hộ và leo lên. Đó là một cái bè rộng khoảng 10 mét vuông, trên đó một vài hộp bánh quy và bìa cứng, pemmican (một loại thịt bò khô), sữa trứng viên nén, đường, đèn pin và thậm chí một ít sô cô la.

Đây sẽ là nhà của Lim trong 133 ngày tiếp theo lênh đênh chốn biển khơi.

Life of Pi phiên bản đời thực: Người đàn ông lênh đênh trên biển suốt 133 ngày, bắt hải âu, giết cá mập để sinh tồn - Ảnh 3.

Chiếc bè của Poon Lim.

2. Một mình giữa biển khơi

Ban đầu Lim nghĩ mình sẽ được giải cứu một cách nhanh chóng, vì vậy, anh chỉ phân chia thức ăn ra cho ba mươi ngày. Cuối cùng, Lim nhận ra không ai có thể tìm ra chiếc bè cứu sinh của mình trong những điều kiện nguy hiểm thời chiến.

Anh nhanh chóng quyết định rằng mình sẽ phải tự giải quyết vấn đề của chính mình, xoay sở cho tới khi tìm được người cứu hộ.

Để sống sót, Lim đã tạo ra một cái bình hứng nước mưa từ một tấm thảm và áo khoác của mình. Lim cũng làm một cái móc câu cá bằng dây điện từ đèn pin và các cạnh rìa của hộp bánh bích quy. Còn mồi câu, ban đầu anh đã sử dụng chính các phần bánh của mình.

Ngoài việc câu cá, Lim cũng tìm ra cách để bắt được những con mòng biển một cách khá mưu mẹo. Lim lấy rong biển từ đáy bè, đắp và nhào nặn nó cho đến khi hỗn hợp trông giống như một cái tổ chim. Sau đó, anh để một con cá thối vào chiếc “tổ” kể trên.

Chẳng bao lâu, một chim hải âu tham ăn nhào xuống và Lim bắt sống nó rồi làm khô thịt bằng nước biển để ăn dần.

Lim cũng đồng thời tập bơi loanh quanh chiếc bè cứu sinh của mình. Mọi thứ diễn ra tốt đẹp và đầy hứa hẹn cho đến tháng thứ hai, khi một cơn bão ập tới gần như phá hủy bè của Lim.

Anh vẫn sống sót và từ từ sửa chữa lại chiếc tàu, mặc dù mất đi nguồn cung cấp nước và thực phẩm đã khổ cực tích trữ bấy lâu nay.

Ngoài các cơn bão và khó khăn liên tục trong việc kiếm lương thực và nước uống, cá mập cũng là một vấn đề nan giải. Chúng bị thu hút bởi máu vương lại của những con cá mà Lim đã giết và phơi khô làm đồ ăn dần.

Những con cá mập thường bao quanh bè của Lim, thậm chí đôi khi còn tấn công. Lim đã tạo ra vũ khí sắc bén từ một cái đinh cạy ra từ sàn bè, sau đó dùng để tấn công cả những con cá mập cả gan nhao lên định làm thịt anh.

Chiến thắng cả cá mập, Lim xử lý xác của chúng như đối với xác của những con mòng biển – rút cạn máu và phơi khô làm thực phẩm dự trữ.

Life of Pi phiên bản đời thực: Người đàn ông lênh đênh trên biển suốt 133 ngày, bắt hải âu, giết cá mập để sinh tồn - Ảnh 4.

Poon Lim khi được cứu thoát bởi những ngư dân Brazil.

Lim đã sống sót tốt đẹp trong 133 ngày liền. Trong 133 ngày đó, Lim đã suýt được giải cứu tới 3 lần – một lần khi anh ta được phát hiện bởi một tàu chở hàng đi qua – những người này đã phớt lờ anh ta. Lần thứ hai, Lim được phát hiện bởi các phi công Mỹ bay tuần tra biển.

Họ thậm chí còn bay thấp xuống để điều tra, nhưng cuối cùng không có cuộc giải cứu nào được thực hiện. Lý do có lẽ là, ngay sau khi họ phát hiện ra Lim, một cơn bão đã xuất hiện và đẩy chiếc bè của Lim đến một nơi khác.

Lim thậm chí còn được phát hiện bởi một tàu ngầm của Đức, và may thay tàu này đã bỏ qua anh.

Cuộc chiến sinh tồn của Lim kết thúc khi anh được cứu thoát bởi những ngư dân Brazil vào ngày 05 tháng 4 năm 1943, cách bờ biển Brazil khoảng mười dặm. Ba ngày sau, họ đến Belem, Brazil, một thị trấn ở cửa sông Amazon.

3. Về với văn minh

Khi đến Belem, mặc dù tương đối khỏe mạnh, Lim vẫn phải trải qua tới bốn tuần tại bệnh viện địa phương. Khi anh được thả ra, lãnh sự quán Anh sắp xếp cho Lim tới Anh, nơi anh được vua George VI trao tặng Huân chương Đế quốc.

Hải quân Hoàng gia đã rất ấn tượng bởi kỹ năng sinh tồn và câu chuyện khó tin của Lim. Sau chiến tranh, Lim muốn di cư sang Hoa Kỳ và, bất chấp những khó khăn ban đầu do hạn ngạch nhập cư Trung Quốc, yêu cầu của anh đã được đáp ứng (điều này vẫn tồn tại ở Hoa Kỳ cho đến năm 1965).

Cuối cùng Lim được phép nhập cư Hoa Kỳ nhờ một luật đặc biệt được viết bởi Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Walter Magnuson của Washington.

Poon Lim sống đến tuổi 72, qua đời vào năm 1991. Cho đến ngày nay, Lim vẫn là người giữ kỷ lục chính thức về việc sinh tồn trong một thời gian dài nhất giữa biển khơi.

Vào năm 1943, Poon Lim đã hài hước nói rằng, “Tôi hy vọng không ai có thể phá vỡ kỷ lục đó.” với mong muốn sẽ không ai còn phải lênh đênh trên biển như anh nữa!

—————0————–0—————

Chàng trai Indonesia sống sót sau 49 ngày lênh đênh giữa biển khơi

Với tình tiết giống hệt như bộ phim “Cuộc đời của Pi” (Life of Pi), khi nhân vật chính bị trôi dạt ngoài biển khơi trong nhiều ngày liên tiếp, câu chuyện của chàng trai 19 tuổi này chỉ khác ở chỗ cậu thực sự phải trải qua “chuyến đi” không mong đợi này suốt 49 ngày trên một cái chòi đánh cá thô sơ.

Chàng thanh niên Aldi Novel Adilang đang làm ca đêm trên một túp lều đánh cá cách bờ biển phía Bắc quần đảo Sulawesi, Indonesia gần 130km vào giữa tháng 7, trước khi bị gió to đánh bật cả mỏ neo, làm cái chòi tạm bợ này trôi dạt ra giữa biển Thái Bình Dương.

Hoàn toàn hoảng loạn và sợ hãi không biết phải làm gì, Aldi đành phó mặc vận mệnh của mình cho biển khơi, bởi trên túp lều mà cậu đang đứng hoàn toàn không có mái chèo hay một loại động cơ nào cả.

Tinh thần của Aldi ngày một đi xuống rõ rệt khi từng đoàn tàu nối tiếp nhau đi ngang qua chiếc “thuyền” nhỏ bé lênh đênh giữa biển mà không mảy may thèm để ý đến chàng trai này, mặc cho tiếng kêu cứu thảm thiết của cậu cất lên cứ ngày một yếu dần.

Trong một bài phỏng vấn mới đây khi cậu đã được giải cứu, Aldi chia sẻ rằng đã có lúc cậu muốn buông bỏ tất cả và nhảy xuống biển để tự kết liễu đời mình. Tuy nhiên, chàng trai trẻ ấy đã không chọn cách chết dễ dàng như vậy.

Sau khoảng thời gian chờ đợi trong vô vọng, với nguồn thức ăn dự trữ dần cạn kiệt, Aldi quyết định rằng mình sẽ phải làm gì đó để tồn tại. Theo lời chàng thiếu niên này, Aldi đã phải đốt gỗ từ chiếc “rompong” (túp lều nổi của cậu) để sưởi ấm và nướng thức ăn là mấy con cá nhỏ bé mà Aldi bắt được.

Ngoài ra, khi nguồn nước ngày càng khan hiếm, Aldi cho biết mình đã phải “nhúng quần áo xuống biển cho đẫm nước, rồi sau đó vắt lên mồm”, tuy rằng thông tin này vẫn chưa được kiểm chứng hoàn toàn.

Lênh đênh ngoài biển khơi suốt 49 ngày trong tình trạng thiếu nước và lương thực, cuối cùng chàng trai Aldi đã phát hiện chiếc tàu có lá cờ quốc kỳ của Panama, có tên là Arpeggio, đang đậu ngoài khơi hải đảo Guam.

Sau khi thu hút sự chú ý bằng cách vẫy tay nhưng không thành, Aldi đã đổi tần số chiếc radio để phát tín hiệu cấp cứu tới con tàu. Run rủi thế nào mà tín hiệu này đã được nhận bởi thuyền trưởng, và ngay lập tức con tàu đổi hướng để tới giải cứu Aldi.

Công cuộc giải cứu tuy có đôi chút khó khăn do sóng to gió lớn, song khi các thuỷ thủ ném dây thừng xuống biển, Aldi đã không ngần ngại nhảy thẳng xuống dòng nước lạnh để bám vào sợi dây, mở ra đường thoát cho chính mình.

Và thế là vào ngày 31 tháng 8, cơn ác mộng của Aldi đã thực sự chấm dứt.

Sau khi được chữa trị, Aldi được đưa tới Nhật Bản để bàn giao lại cho đại sứ quán nước mình. Ngày mùng 8 tháng 9 vừa qua, cậu đã quay trở về quê nhà với bố mẹ ở Manado, và giờ đang cảm thấy khoẻ khoắn và hạnh phúc hơn bao giờ hết.

Câu chuyện phi thường: Chàng trai Indonesia uống nước biển, bắt cá bằng tay không sống sót sau 49 ngày lênh đênh giữa biển khơi - Ảnh 1.

Khi được tìm thấy, Aldi đã di chuyển một quãng đường dài 2698 cây số.

Câu chuyện phi thường: Chàng trai Indonesia uống nước biển, bắt cá bằng tay không sống sót sau 49 ngày lênh đênh giữa biển khơi - Ảnh 2.

Hình ảnh của Aldi khi mới được cứu sống.

Câu chuyện phi thường: Chàng trai Indonesia uống nước biển, bắt cá bằng tay không sống sót sau 49 ngày lênh đênh giữa biển khơi - Ảnh 3.

Aldi được đưa về Nhật Bản để bàn giao lại cho đại sứ quán Indonesia.

Câu chuyện phi thường: Chàng trai Indonesia uống nước biển, bắt cá bằng tay không sống sót sau 49 ngày lênh đênh giữa biển khơi - Ảnh 4.

Ngày mùng 8 tháng 9 vừa qua, cậu đã quay trở về quê nhà với bố mẹ ở Manado, và giờ đang cảm thấy khoẻ khoắn và hạnh phúc hơn bao giờ hết.

Tuy câu chuyện của chàng “Pi ngoài đời thực” này có một cái kết có hậu, nhưng nó cũng làm dấy lên một hồi chuông cảnh tỉnh về mức độ nguy hiểm của công việc mà chàng trai trẻ này đang đảm nhận.

Trên “túp lều đánh cá” nằm xa đất liền đó, hằng đêm cậu phải thắp đèn để thu hút cá tới dính bẫy. Sự tiếp xúc duy nhất giữa Aldi và con người chỉ xảy ra một tuần một lần, khi có người mang đồ tiếp tế lương thực tới cho cậu.

 

Đăng tải tại Phóng Sự - Ký Sự, Tin Tức | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Truyện cười

Nhầm thuốc

Hai vợ chồng nhà kia sinh được một cậu con trai dễ thương mạnh khỏe. Nay đã sáu tuổi rồi… Một đêm nằm chưa ngủ được cô tâm sự với chồng.

Anh ah! Con vẫn …bú… dù em đã hết …sữa rồi ! nó vẫn cứ nhằn thôi . Nhiều hôm em đau quá không chịu được.

Người chồng cũng xót xa tiếc vợ. Rồi cũng cười nhẹ và nói.

Anh đã có cách, em bôi chút dịch gì đó vào nó bú thấy khó chịu là bỏ liền. Đêm đó người chồng lấy một lọ màu vàng ra và bôi vào nhũ hoa vợ. Hôn vợ yêu một cái cái rồi đi trực ca đêm. Đã giữa đêm rồi người chồng chợt nhớ ra là mình đã lấy nhầm lo thuốc cực độc bôi cho vợ. Anh thốt lên thôi chết rồi ba giết con rồi. Anh liền lên xe tức tốc lao về nhà. Khi về tới nhà anh thấy mọi người đang đúng rất đông quanh nhà mình.

Biết con có chuyện chẳng lành anh lại than lên trong tuyệt vọng. Con ơi ! ba giết con rồi!

Trong nhà thì phát ra tiếng xôn xao người thì bảo kệ mẹ nó cho nó chết. Người lại bảo gọi xe cấp cứu. Người cha lại càng thêm tuyệt vọng khụy gối trước cổng than khóc. Chợt có ai vỗ vào vai mình người cha vô cùng bất ngờ khi nhìn đó là con trai mình.

Lúc đó cậu khẽ nói : “ba ơi! sao chú hàng xóm tự nhiên lại chết trong nhà mình…”

—————–0—————-0——————

Ông nội và cháu

Ông nội và người cháu đích tôn 3 tuổi đang ngồi chơi trò bán hàng.

Cháu: – Đây tôi đưa bác 5.000 đồng, nhưng với một điều kiện.

Ông: – Điều kiện gì cũng được.

Cháu: – Thật không?

Ông: – Thật. Bác cứ nói đi.

Cháu: – Bác phải về dạy lại con bác đi nhé, con bác là hay đánh tôi lắm đấy.

—————–0————–0—————

Đông là bạn học cùng lớp cấp 3 với tôi. Tính tình Đông nhút nhát, gặp người lạ cứ im thin thít, nên mọi người gọi là Đông “thít”. Nhút nhát vậy nhưng Đông “thít” lại học giỏi nhì lớp, sau mỗi tôi. Hơn 10 năm kể từ ngày tốt nghiệp cấp 3 ra trường, tôi cũng không có dịp gặp lại Đông. Hôm trước nghe tin Đông vừa bị tai nạn lao động rất nặng nên tôi quyết định tìm đến nhà Đông để hỏi thăm.

Nhà Đông “thít” nằm sâu tít trong một con ngõ nhỏ hai bên mọc um tùm những khóm hoa cứt lợn, lổn nhổn những bãi cứt bò, trước nhà có cái cổng mốc xanh, loang lổ như cứt trâu, trên lợp ngói xi măng xỉn màu, thâm sì như cứt gà.

Hơn mười năm mới trở lại ngôi nhà này, nên khi dừng xe trước cổng, những kỉ niệm lại ùa về khiến lòng tôi nao nao khó tả: kia là cây trứng cá mà có lần tôi đã trèo lên nhìn trộm em gái nhà bên tắm. Do bị vướng tàu lá chuối nên tôi chỉ nhìn được có nửa người: từ mông trở xuống. Nhìn một hồi đến lúc em ấy xoay người lại mới biết nhìn nhầm: không phải em, mà là bố em đang tắm; vẫn còn đó cái đống gạch cũ bên vườn mía mà nhiều lần tôi lẻn ra ngồi ỉa bậy, vừa ỉa vừa bẻ mía chén ngon lành. Bất chợt tôi thấm thía câu thơ của một thi sĩ nào đó rất nổi tiếng mà tôi không biết tên: “Khi ta ỉa chỉ là nơi đất ỉa. Khi ta đi cứt bỗng hóa tâm hồn”.

Vừa bước vào nhà, một con chó dữ tợn lao vào tôi chực cắn, nhưng nhận ra người quen, nó khựng lại giây lát rồi quẫy đuôi mừng rối rít. Không giống như con chó, thằng Đông “thít” đang nằm trên chiếc giường chỗ góc nhà chỉ quay ra nhìn tôi bằng ánh mắt vô hồn, ngơ ngác.

“Mày không nhận ra tao à? Tao là Thìn, đẹp zai nhất lớp nên cô giáo và các bạn hay gọi là Thìn ‘đẹp’ đây!” – tôi nói vậy mà thằng Đông “thít” vẫn chả phản ứng gì, cứ nằm im thin thít. Lúc này, mẹ thằng Đông mới từ trong buồng bước ra, giọng buồn buồn, bảo: “Đông nó không nhận được ra ai đâu cháu ơi!”. Đột nhiên lúc ấy mặt thằng Đông lại đỏ bừng, mồm há ra, kêu “ú ú” gì đó như đang hát nhạc Sơn Tùng. Tôi vui mừng: “Có lẽ Đông nhận ra cháu đấy cô ạ!”. Mẹ Đông lắc đầu: “Không phải! Từ ngày bị tai nạn lao động, nó không nói được. Muốn ăn kêu “ú ú”, muốn ỉa cũng kêu “ú ú”, nhiều lúc nó kêu mà cô không hiểu là nó muốn ăn hay muốn ỉa”. Nói rồi mẹ Đông vào buồng lấy ra một bát cơm và một cái bô để trước mặt Đông. Đông nhìn chằm chặp vào cái bô, kêu “ú ú”. Mẹ Đông nhìn tôi, cười: “Đấy! Cô bảo mà: không phải nó nhận ra cháu đâu, mà là nó buồn ỉa!”.

Lau chùi và đổ bô cho Đông xong, mẹ Đông mắt rơm rớm kể rằng sau khi tốt nghiệp đại học, Đông xin việc khắp nơi, cuối cùng được vào làm cho một công ty nước ngoài, hoạt động trong mảng vận tải. Vì làm việc dựa trên nền tảng ứng dụng di động – tiếng Anh gọi là Mobi Apps – nên công việc của Đông cũng không quá vất vả: thay vì phải ra bến xe hoặc ngã tư đón khách như người ta thì Đông ngồi đâu cũng được, chỉ cần bật điện thoại 3G lên, có khách là ứng dụng sẽ báo, không phải lo bon chen giành khách, lại còn được phát áo đồng phục kèm thêm 2 cái mũ bảo hiểm có in logo công ty. Tưởng sự nghiệp cứ thế phát triển đi lên thì bỗng tai họa ập đến: Đông “thít” bị hai xe ôm truyền thống hành hung dẫn đến đa chấn thương, gẫy đốt sống đít, rách dây chằng háng, thoát vị lỗ hậu môn, liệt toàn thân và tinh thần hoảng loạn…

Kể đến đó, mẹ Đông dừng lại thở dài, lấy vạt áo lau nước mắt sụt sùi. Không khí lặng đi một hồi, rồi vẫn là mẹ Đông cất giọng: “Vậy còn cháu, nghe nói cháu học sư phạm hả? Tình hình công việc thế nào?”. Tôi cười gượng, bảo: “Dạ, cháu ra trường nhưng không vào được biên chế, đành chấp nhận dạy hợp đồng, lương thấp, không đủ sống, cháu phải kiêm thêm cả chân ship hàng cho cửa hàng phân bón. Sáng có tiết thì tới trường làm người đưa đò: chở những ước mơ của học sinh đến bến tương lai, chiều có khách thì tới cửa hàng làm người đưa phân: chở những bao phân của khách đến ruộng”.

Mẹ Đông lại thở dài, đưa tay mân mê cái khung ảnh đặt trên bàn: đó là bức ảnh chụp khoảnh khắc tôi và Đông cười tươi khi được thầy chủ nhiệm trao phần thưởng dành cho hai học sinh xuất sắc nhất của lớp. Rồi mẹ Đông hỏi: “Năm đó, cả lớp đều đỗ tốt nghiệp hết cháu nhỉ?”. Tôi lắc đầu: “Dạ không! Có một bạn trượt, là bạn Lãm “hờ” ạ!”. “Sao lại gọi là Lãm ‘hờ’?”. “Dạ, vì bạn ấy vô lo vô nghĩ, ai nói gì cũng chỉ cười ‘hờ hờ’”.

Đúng lúc này, một chiếc xe hơi sang trọng đỗ xịch trước sân. Cửa xe mở, một người đàn ông đóng bộ com-lê lịch lãm xách giỏ quà bước xuống. Tôi nheo mắt nhìn ra và há mồm kinh ngạc: “Là thằng Lãm “hờ”! Trời ơi! Vừa nhắc đến nó xong! Thằng này thiêng quá, sau này chết, không cần phải đốt hương muỗi, có khi đốt rác nó cũng lên!”.

Hơn 10 năm mới gặp lại, thằng Lãm “hờ” vẫn vậy: nó vẫn cười “hờ hờ”, bắt tay hỏi thăm tôi rối rít. Rồi nó kể là năm ấy bị trượt tốt nghiệp, vốn không thích học nên nó bỏ luôn, chả thèm thi lại, quyết định ở nhà đi tán gái, lấy vợ sớm. Nhờ khéo mồm, nó đã tán được một em khá xinh trong làng và dụ được em ấy ra vườn chuối hoang ngoài cánh đồng tâm sự. Hì hụi một lúc nó đã lột được quần em ấy vứt sang một bên, chuẩn bị chén thì đột nhiên em ấy đẩy nó ra, chạy tới nhặt lấy cái quần nó vừa vứt trên mặt đất. Nó tưởng em ấy giận ôm quần bỏ về, nhưng không, em ấy vắt cái quần lên tàu chuối, nói để lên cao cho khỏi bẩn, chứ như mấy anh trước cũng vứt xuống đất, bẩn hết quần, về bố em ấy mắng.

Rồi thì cũng tới lúc nó chén em ấy. Vừa vào phát em đã nhăn nhó kêu ré lên: “Á! Đau!”. Nó ngạc nhiên hỏi lại: “Em còn trinh à?”. Em ấy lắc đầu bảo: “Không! Có con gì vừa cắn vào mông em”. Nó cúi xuống nhìn thì ôi má ơi: một con rắn cạp nong to như con rắn cạp nia đang trợn mắt nhìn nó trừng trừng. Nó rùng mình nghĩ thầm: “Rắn vốn thích ăn trứng, chắc vừa rồi con rắn định tớp quả trứng, nhưng lại tớp trượt vào mông em ấy”. Rồi chẳng kịp mặc áo quần, nó cuống cuồng bế em ấy lủng lẳng chạy thục mạng vào làng, hướng về phía nhà thầy lang chuyên trị rắn cắn. Việc thầy lang chữa rắn cắn thì không có gì là lạ, và cũng chả có gì để phải tò mò, vậy mà không hiểu sao hôm đó người ta lại kéo đến xem đông thế!

Sau lần ấy, thằng Lãm “hờ” nhận ra một điều rằng: trai gái trong làng rất cần một nơi để hẹn hò, để tâm sự một cách lành mạnh, an toàn. Nếu nó đầu tư vào mảng này, chắc chắn sẽ thành công. Dám nghĩ dám làm, thằng Lãm lập tức về nhà mang sổ đỏ đi cắm, rồi vay chạy khắp nơi, dồn tiền xây một dãy nhà nghỉ bình dân. Chỉ chưa đầy nửa năm kinh doanh, nó đã trả hết nợ nần và bắt đầu có lãi. Hiện tại, nó đã là chủ của một chuỗi nhà nghỉ mang thương hiệu “Lãm Hờ”, có mặt ở hầu khắp các xã trong huyện và còn chuẩn bị tham gia chương trình Shark Tank trên VTV3 nữa!

Chuyện trò thêm một lát rồi tôi và thằng Lãm ‘hờ’ cùng chào từ biệt hai mẹ con thằng Đông để ra về. Con Wave ghẻ của tôi lại sinh sự, đạp mãi không nổ, tôi đoán: “một là nó hỏng bugi, hai là nó hỏng cái gì bên trong”.

Đang cong mông định dắt ra tiệm sửa thì thằng Lãm “hờ” đã đỗ xịch con ô tô mới coóng của nó bên cạnh rồi hạ kính nhìn tôi, bảo: “Lên xe tao chở!”. Tôi nhìn nó xong quay sang nhìn cái xe của tôi ngập ngừng, ý muốn nói: ‘còn con Wave ghẻ này của tao thì sao?’. Thằng Lãm cười: “Yên tâm! Tao sẽ bảo nhân viên của tao tới mang đi sửa, rồi đem đến tận nhà trả cho mày!”. Tôi gãi đầu: “Như vậy phiền mày quá, tao ngại!”. Thằng Lãm phẩy tay: “Suốt mấy năm học cấp 3, mày là thằng học giỏi nhất lớp, còn tao là thằng học dốt nhất lớp, nhưng mày vẫn không coi thường tao, ngược lại, mày luôn hết lòng giúp đỡ, cho tao nhìn bài, chép bài. Giờ, tao cho mày đi nhờ xe ô tô một đoạn, rồi sửa giúp mày con Wave ghẻ này thì có đáng gì đâu mà phải ngại!”.

Vậy là tôi bỏ con Wave ghẻ lại, rồi lên ngồi nhờ ô tô của thằng Lãm. Chiếc xe lăn bánh êm ru lướt đi trên con ngõ nhỏ – con ngõ đầy kỉ niệm, gắn liền với bao hoài bão, ước vọng của thuở học sinh cắp sách tới trường, giờ, con ngõ ấy mọc um tùm những hoa cứt lợn, và lổn nhổn, la liệt những cứt bò…

Đăng tải tại Truyện Cười | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Dinh thự Vua Mèo – Cướp đúng quy trình?

Liên quan đến việc ông Vương Duy Bảo (Cháu nội “Vua Mèo” Vương Chí Sình hay còn gọi là Vương Chí Thành) có đơn gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tòa dinh thự họ Vương tại xã Sa Phìn, huyện Đồng Văn (Hà Giang), chiều 20/8, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Vương Duy Bảo.

Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Phòng văn hóa là hoàn toàn phù hợp

Chia sẻ với chúng tôi, ông Vương Duy Bảo cho biết, sau khi biết thông tin Sở TN&MT tỉnh Hà Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tòa dinh thự Nhà Vương cho phòng văn hóa và thông tin huyện Đồng Văn, ông đã có văn bản gửi các cơ quan chức năng.

chau noi vua meo la con chau trong nha tung o do ma do dien tich toi khong duoc biet
Chủ nhân của tòa dinh thự họ Vương (dân tộc Mông ở huyện Đồng Văn) là ông Vương Chính Đức (1865 – 1947). Hơn một thế kỷ trước, với nghề trồng và buôn thuốc phiện, dòng họ Vương đã thống lĩnh toàn bộ vùng cao nguyên rộng lớn và được bà con gọi là vua Mèo. (Ảnh: Dân trí)

Theo đó, ngày 24/7, ông Hoàng Văn Nhu, Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Hà Giang đã ký văn bản gửi Sở VH-TT&DL về việc phối hợp giải quyết đơn thư của ông Vương Duy Bảo liên quan đến di tích quốc gia khu Nhà Vương (xã Sà Phìn, Đồng Văn).

Văn bản nêu rõ, sau khi nghiên cứu kiểm tra các hồ sơ liên quan và nội dung đơn của ông Bảo, Sở TN&MT có ý kiến.

Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Vương đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phòng văn hóa và thông tin huyện Đồng Văn (Hà Giang). Mục đích sử dụng: Đất có di tích danh thắng.

Văn bản của Sở TN&MT tỉnh Hà Giang căn cứ vào quyết định của Bộ Văn hóa Thông tin về việc công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật khu Nhà Vương (xã Sà Phìn, Đồng Văn, Hà Giang).

chau noi vua meo la con chau trong nha tung o do ma do dien tich toi khong duoc biet
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang cấp cho Phòng văn hóa thông tin huyện Đồng Văn.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003: “Đất có di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định bảo vệ thì phải được quản lý nghiêm ngặt”.

Khoản 1 Điều 54 Nghị định 181/2004/NĐ-CP về việc thi hành luật đất đai quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: “Đất có di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh độc lập thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho tổ chức trực tiếp quản lý di tích lịch sử – văn hóa danh lam thắng cảnh”.

“Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Phòng văn hóa và thông tin huyện Đồng Văn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật”, văn bản nêu rõ.

Gia tộc họ Vương không cho, không bán, không hiến tặng

Chia sẻ với chúng tôi, ông Vương Duy Bảo cho hay, văn bản của Sở TN&MT tỉnh Hà Giang có nhiều điều vô lý.

“Tôi là nhân chứng lịch sử, con cháu trong nhà và là người đã từng ở ngôi nhà đó mà khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo diện tích tôi không được biết.

Đất khu vực nhà Vương chúng tôi sinh sống bao đời nay và từ trước đến nay thuộc sở hữu của gia đình chúng tôi bỗng nhiên lại thuộc quyền sở hữu của người khác”, ông Bảo nhấn mạnh.

chau noi vua meo la con chau trong nha tung o do ma do dien tich toi khong duoc biet
Ông Vương Duy Bảo cho hay, dòng họ ông chưa hiến tặng, chưa trao đổi, cho ai

Ông Bảo cho biết thêm, năm 2002, bố ông là Vương Quỳnh Sơn đã vận động mọi người trong dinh thự nhà Vương chuyển ra ngoài sinh sống và đề nghị nhà nước hỗ trợ 230 m2 đất và tiền để dựng nhà cửa nhưng nhà nước chỉ hỗ trợ mỗi gia đình được 100 m2.

Ngoài ra, nhà nước trích hỗ trợ tổng 500 triệu đồng cho ba chủ thể sở hữu dinh thự họ Vương ra ngoài sinh sống. Đây là số tiền giúp mọi người xây nhà ở khu đất mới.

“Chúng tôi chưa quyết định hiến dinh thự cho nhà nước. Chúng tôi không cho, không bán, không hiến tặng và trao đổi với ai”, ông Bảo nhấn mạnh.

Theo ông Bảo, trong văn bản nêu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi rõ: chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Tuy nhiên, tại giấy chứng nhận số BB120672 cấp cho Phòng Văn hóa thông tin huyện Đồng Văn chỉ có thửa số và tờ bản đồ.

“Di tích Nhà Vương có ba ngôi nhà chính và nhiều cây lâu năm nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không hề ghi. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi diện tích sử dụng”, ông Bảo nhấn mạnh.

Ngoài ra, Bộ Văn hóa thông tin công nhận di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đối với khu Nhà Vương (xã Sà Phìn, Đồng Văn, Hà Giang) là di tích kiến trúc – nghệ thuật.

Trong văn bản thông báo do ông Phạm Việt Long, Chánh Văn phòng Bộ Văn hóa thông tin ký ngày 20/3/3002 truyền đạt ý kiến của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin Phạm Quang Nghị nêu rõ: Khu nhà của dòng họ Vương ở xã Sà Phìn (Đồng Văn, Hà Giang) là di tích kiến trúc nghệ thuật.

“Việc Nhà nước công nhận các di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật trên đất nước Việt Nam, trong đó có di tích Nhà Vương là sự ghi nhận về mặt pháp lý và tôn vinh giá trị lịch sử, văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị ấy trong hiện tại và tương lai.

Đó là mục đích và việc làm đúng đắn, có tác dụng tốt cho cả chủ sở hữu các di tích, cho các địa phương có di tích và cho toàn xã hội.

Quyết định này không quốc hữu hóa quyền sở hữu ngôi nhà của những người trong gia đình được quyền thừa kế hợp pháp.

Bộ Văn hóa Thông tin cùng với địa phương và gia đình dòng họ Vương không những có trách nhiệm quản lý, giữ gìn giá trị vật chất, kiến trúc của di tích, không để hư hỏng, xuống cấp, mà còn phải giữ gìn nâng cao và phổ biến các giá trị văn hóa, nghệ thuật của di tích thông qua việc bảo tồn, tôn tạo, giới thiệu di tích góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam”, văn bản nêu rõ.

—————-0—————-0—————-

Cuộc đời Vua Mèo và dinh thự xây hết 15.000 đồng bạc hoa xòe

Dinh thự Vua Mèo tại xã Sà Phìn (Đồng Văn, Hà Giang) được xây từ thời Vương Chính Đức. Theo tư liệu từ gia đình, ông Vương Chính Đức sinh năm 1865, được người H’Mông gọi là Vàng Dúng Lùng. Gia cảnh nghèo khó, ông phải lang thang nay đây mai đó kiếm kế sinh nhai.

Vương Chính Đức tham gia vào tổ chức Hươu nai của người H’Mông ở Đồng Văn để chống lại quân Cờ Đen (Trung Quốc). Quá trình chiến đấu, Vương Chính Đức được người H’Mông suy tôn làm thủ lĩnh, gọi là Vua H’Mông, hay Vua Mèo.

Dinh thự được xây dựng trên mảnh đất của “bậc anh kiệt” 

Để xây dựng tòa dinh thự ở Sà Phìn, năm 1890 Vương Chính Đức cho mời thầy địa lý người Hán tên là Trương Chiếu tìm địa điểm. Sau khi đi khắp Đồng Văn, cuối cùng Trương Chiếu chọn Sà Phìn làm nơi dựng nhà. Thầy địa lý giải thích giữa thung lũng Sà Phìn nổi lên một quả đồi hình con rùa, xung quanh là núi cao bao bọc. Xây nhà trên lưng con rùa sẽ giàu sang phú quý suốt đời.

Sau lưng quả đất hình con rùa là dãy núi hình ghế tựa, có đất để co duỗi chân. Bên phải, bên trái đều có núi cao. Đằng trước có hai núi tượng trưng cho văn, võ đứng hầu. Sau hai quả núi là một dãy núi chắn ngang như rồng uốn lượn. Trương Chiếu kết luận “đây là mảnh đất ở của bậc anh kiệt”.

Dinh thự Vua Mèo được bao bọc bởi nhiều ngọn núi đá. Ảnh: Ngọc Thành.

Dinh thự Vua Mèo được bao bọc bởi nhiều ngọn núi đá. 

Khi thầy địa lý chọn xong, Vương Chính Đức giao cho cụ Hoàng – mưu sĩ người kinh gốc Nam Định và ông Cử Chúng Lù – người phụ trách đội quân người H’Mông của Vương Chính Đức, nghiên cứu, phác họa tòa nhà trên mảnh đất. Vương Chính Đức mời người Hán ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) là Tống Bách Giao thầu, thiết kế và thi công. Tống Bách Giao lấy người Hồi ở huyện Tuyên Uy, tỉnh Vân Nam, để thiết kế và thi công.

Tòa dinh thự khởi công năm 1898 đến 1903 thì khánh thành. Tổng kinh phí hết khoảng 15.000 đồng bạc hoa xòe (năm 1930, một đồng bạc hoa xòe bằng 10 franc của Pháp). Khu dinh thự được xây kiểu pháo đài phòng thủ. Xung quanh được bao bọc bởi lớp tường đá dày 60-70 cm, cao 2 m, có nhiều lỗ châu mai. Phía sau nhà có 2 lô cốt kiên cố.

Nhà thiết kế theo kiểu của người Hán, lò sưởi kiểu Pháp, tảng đá kê chân cột hình quả thuốc phiện. Hoa văn gỗ trong nhà cũng có hình hoa, quả thuốc phiện – mặt hàng buôn bán chính khiến Vương Chính Đức giàu nhất vùng thời đó.

Dinh thự là nơi chiêu mộ hiền sĩ

Tòa dinh thự được chia làm ba phần tiền dinh, trung dinh và hậu dinh. Trước cửa tiền dinh có hai câu đối: “Gia tích thiện nhân hiền xuất nhập. Môn trọng người hào kiệt vãng lai” (Nhà quý hiền, người vào ra. Cửa phong lưu, khách lui tới). Năm 1938, Pháp xóa bỏ chế độ người H’Mông tự quản và yêu cầu Vương Chính Đức sửa lại câu đối nhằm không cho ông chiêu hiền, nạp sĩ.

Sân giữa tiền dinh có tấm biển sơn son thếp vàng với dòng chữ Hán: “Biên chính khả phong” (Chính quyền biên cương vững mạnh), được nhà Nguyễn mang từ Huế ra gắn cho dinh thự Vương Chính Đức vào năm Khải Định thứ 13 cùng thẻ bài ngà voi và mũ áo tấn phong cho ông làm quan triều đình.

Hai dãy nhà hai tầng bên phải và trái là nơi ăn ở của các thủ lĩnh, mưu sĩ, tổng quản, người giúp việc cho Vương Chính Đức. Nhà chính tiền dinh có phòng ngủ, phòng ăn, tiếp khách của gia đình Vương Chí Sình, con út Vương Chính Đức. Tầng 2 là nơi tiếp khách của Vương Chính Đức.

Dinh thự vua Mèo được xây dựng tốn 15.000 đồng bạc hoa xòe. Ảnh: VT.

Dinh thự vua Mèo được xây dựng tốn 15.000 đồng bạc hoa xòe. 

Hai dãy nhà hai bên trung dinh là nơi nghỉ, ăn uống của họ hàng khi đến chơi (tầng 1 dành cho đàn bà, tầng 2 của đàn ông). Nhà chính trung dinh có bàn thờ tổ tiên kiêm phòng ăn của Vương Chính Đức tiếp người thân trong họ hàng; phòng ngủ của Vương Chí Chư (con trai thứ ba của Vương Chính Đức); phòng ngủ của vợ con Vương Chí Chư.

Hậu dinh là nơi ăn, nghỉ sinh hoạt của Vương Chính Đức cùng vợ và các con chưa lập gia đình.

Theo ông Vương Duy Bảo (cháu nội Vương Chí Thành), trước khi mất, Vương Chính Đức chia tòa dinh thự ở Sà Phìn thành ba phần. Tiền dinh do cháu đích tôn Vương Quỳnh Sơn quản lý. Trung dinh do con thứ ba Vương Chí Chư quản lý. Hậu dinh do con út Vương Chí Sình quản. Việc này có sự chứng dám của các đầu dòng, đầu họ người H’Mông.

Hiện vật dụng còn sót lại gắn với cuộc đời của Vương Chính Đức là tấm phản đặt ở dãy nhà ngang trong cùng của hậu dinh và bể nước đục bằng đá khối đặt tại sân hậu dinh. Tấm phản là nơi để Vương Chính Đức hút thuốc phiện cùng khách.

Cha con Vua Mèo gắn bó với cách mạng

Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Hoàng Việt Hưng từ Cao Bằng sang Sà Phìn giác ngộ ông Vương Chính Đức đi theo cách mạng để đánh Pháp, Nhật, chống lại quân Tưởng Giới Thạch. Cụ Hồ sau đó gửi thư mời ông Đức về Hà Nội. Nhưng do tuổi cao, ông Đức cử con trai Vương Chí Sình về gặp.

Về đến Hà Nội, ông Vương Chí Sình nhận kết nghĩa anh em với Chủ tịch Hồ Chí Minh, được đặt tên là Vương Chí Thành. Tại buổi kết nghĩa, Vương Chí Sình hứa quyết tâm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh bảo vệ mảnh đất Đồng Văn, lãnh đạo người H’Mông theo Việt Minh. Khi nào đánh Tây, đuổi Nhật xong, họ Vương sẽ trả lại đất Đồng Văn cho Hồ Chủ tịch. Ông Sình sau đó tham gia đại biểu Quốc hội khoá 1, làm Chủ tịch huyện Đồng Văn.

Trong dinh còn lưu nhiều ảnh tư liệu gia tộc họ Vương tại đây. Ảnh: VT.

Trong dinh còn lưu nhiều ảnh tư liệu gia tộc họ Vương tại đây. 

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946, ngân khố quốc gia cạn kiệt, Vương Chí Sình đã ủng hộ Chính phủ 2,2 triệu đồng bạc hoa xòe và 7 kg vàng.

Cùng năm đó, để khẳng định tình cảm và lòng tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Bùi Công Trừng mang hai kỷ vật tấm áo trấn thủ và cây đao lên tặng ông Vương Chí Sình. Thanh đao do xưởng quân giới Việt Bắc rèn có viết dòng chữ “Tận trung báo quốc. Bất thụ nô lệ”.

Khi Vương Chính Đức mất năm 1947, Chủ tịch Hồ Chỉ Minh cử ông Mai Trung Lâm, Phó tư lệnh bộ đội Biên phòng khu tự trị Việt Bắc và ông Hoàng Đức Thắng, Thành ủy viên Hà Nội lên cùng con cháu họ Vương chôn cất ông Đức trên đỉnh núi La Gia Động, cách Sà Phìn 3 km. Ông Vương Chí Sình (sinh năm 1886) được Vương Chính Đức chọn làm người kế tục sự nghiệp.

Năm 1950, nhờ sự giúp sức của Vương Chí Sình, bộ đội chủ lực của Việt Minh bí mật hành quân qua Đồng Văn sang Cao Bằng mở mặt trận biên giới thu đông.

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông Vương Quỳnh Sơn (cháu nội Vương Chính Đức) cho chính quyền mượn tiền dinh làm trụ sở Ủy ban hành chính xã Sà Phìn. Năm 1993, Bộ Văn hoá Thông tin công nhận dinh thự họ Vương tại Sà Phìn là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Bộ trùng tu di tích năm 2003.

Năm 2006, ông Vương Chí Sình được truy tặng Huân chương đại đoàn kết dân tộc.

—————-0—————0—————–

Hình ảnh về Dinh thự Vua Mèo

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Khu dinh thự Vua Mèo (Vua H’Mông) nằm trên gò đất thuộc thung lũng Sà Phìn, cách trung tâm huyện lỵ Đồng Văn 15 km. Dinh thự và cả mảnh đất rộng lớn bao quanh thuộc sở hữu của Vương Chính Đức (1865-1947), thủ lĩnh cộng đồng người H’Mông ở cao nguyên đá Đồng Văn trước cách mạng tháng 8.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Hai bên lối đi vào dinh thự là hàng cây sa mộc hàng trăm năm tuổi đứng uy nghiêm, cao vút. Mặt đường được lát bằng phiến đá lớn, vuông vức.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Cửa chính dinh thự của Vua Mèo. Để xây dựng, họ Vương đã thuê thợ là người Hồi vùng Vân Nam (Trung Quốc) và những tốp thợ giỏi nhất người H’Mông. Công trình được xây dựng trong khoảng 8 năm và tốn 15.000 đồng bạc trắng.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Dinh thự Vua Mèo gồm 4 nhà ngang, 6 nhà dọc cao 2 tầng với 64 buồng được chia thành tiền dinh, trung dinh và hậu dinh, gắn kết với nhau và tạo một khoảng sân ở giữa. Công trình được xây dựng mô phỏng theo lối kiến trúc đời Thanh (Trung Quốc) với diện tích 1.120 m2, nguyên liệu là đá xanh, gỗ thông và ngói đất nung.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Tường nhà được xây bằng đá, bên trong ốp ván, cột, kèo làm bằng gỗ, sàn cũng lát gỗ, mái nhà lợp bằng ngói máng, riêng hàng hiên lợp ngói ống, trên ngói có trang trí hoa văn chữ Thọ.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Các bức tường đường xây dựng bằng đá, liên kết với nhau bằng mật mía. Dinh thự Vua Mèo được công nhận di tích quốc gia với tên gọi “Khu di tích văn hóa nghệ thuật lịch sử Nhà Vương” năm 1993, trở thành điểm thu hút du khách trong và ngoài nước khi ghé thăm cao nguyên đá Đồng Văn.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Trước cách mạng tháng 8, Vương Chính Đức là người giàu có nhất vùng nhờ buôn bán thuốc phiện. Sà Phìn là nơi trung chuyển thuốc phiện từ tam giác vàng Miến Điện đến vùng Vân Nam (Trung Quốc) sang Đông Dương. Trong ngôi nhà có nhiều biểu tượng quả anh túc (thuốc phiện).

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Căn phòng nằm cuối cùng trong dãy nhà là nơi trưng bày nhiều bức ảnh các thế hệ của dòng họ Vương.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Trong khuôn viên dinh còn có cả kho lương thực, kho thuốc phiện, kho vũ khí và kho chứa vật dụng sinh hoạt.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Hai bên hông dinh thự là khu phụ, như: bếp, bể nước và chuồng ngựa…

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Xung quanh nhà Vua Mèo được bao bọc bởi hai bức tường thành xây bằng đá, dày khoảng 60 cm, cao từ 2,5 đến 3 m.

Dinh thự Vua Mèo - di sản của vùng cao nguyên đá

Bên ngoài dinh thự là khu mộ dòng họ Vương. Ngày 21/7, ông Vương Duy Bảo (cháu nội Vua Mèo Vương Chí Thành, người con kế nghiệp Vương Chính Đức) có đơn gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị xem xét lại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tòa dinh thự họ Vương.

Sau khi được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, giấy chứng nhận quyền sử dụng dinh thự và mảnh đất rộng lớn bao quanh đã được cấp cho Phòng Văn hóa Thông tin huyện Đồng Văn. Điều này khiến con cháu họ Vương bất bình.

Đăng tải tại Chuyện Làng Quê, Phóng Sự - Ký Sự, Tin Tức, Vẹt Niêu TiVi | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ảnh xưa quý giá về chợ Đồng Xuân Hà Nội

Hình thành từ thế kỷ 19, chợ Đồng Xuân là chợ lớn nhất của Hà Nội xưa. Cùng xem lại những hình ảnh lịch sử quý giá về khu chợ này.

Chợ Đồng Xuân khi đang được xây dựng, khoảng năm 1889-1890.
Chợ Đồng Xuân khi đang được xây dựng, khoảng năm 1889-1890. Chợ hình thành sau khi hai khu chợ cũ ở phố Hàng Đường và phố Hàng Buồm được giải tỏa.

Thời điểm này khu chợ chính đã được dựng mái tôn, xung quanh là các quầy lợp bằng lá thô sơ.
Thời điểm này khu chợ chính đã được dựng mái tôn, xung quanh là các quầy lợp bằng lá thô sơ.

Hơn 100 năm tồn tại của chợ Đồng Xuân

Cảnh buôn bán ở chợ Đồng Xuân xưa khi khu chợ chưa được xây dựng hoàn thiện.
Cảnh buôn bán ở chợ Đồng Xuân xưa khi khu chợ chưa được xây dựng hoàn thiện.

Mặt trước chợ Đồng Xuân, khoảng năm 1889-1890.
Mặt trước chợ Đồng Xuân, khoảng năm 1889-1890.

Đường xe điện chạy qua mặt trước chợ, nhìn từ đầu phố Hàng Khoai.
Đường xe điện chạy qua mặt trước chợ, nhìn từ đầu phố Hàng Khoai.

Diện mạo mới của chợ Đồng Xuân sau quá trình xây dựng năm 1890.
Diện mạo mới của chợ Đồng Xuân sau quá trình xây dựng năm 1890. Chợ có năm vòm cửa và năm nhà cầu dài 52m, cao 19m. Mặt tiền theo kiến trúc Pháp, gồm năm phần hình tam giác có trổ lỗ như tổ ong, lợp mái tôn.

Chợ Đồng Xuân năm 1930 trong bưu ảnh của Pháp.
Chợ Đồng Xuân năm 1930 trong bưu ảnh của Pháp.

Phố Hàng Khoai nằm bên hông chợ Đồng Xuân, khoảng thập niên 1920-1930.
Phố Hàng Khoai nằm bên hông chợ Đồng Xuân, khoảng thập niên 1920-1930.

Auto Draft

Những chiếc xe quân sự đỗ phía trước chợ Đồng Xuân, đầu thập niên 1950.

Những chiếc xe quân sự đỗ phía trước chợ Đồng Xuân, đầu thập niên 1950.

Auto Draft

Toàn cảnh mặt trước chợ Đồng Xuân thập niên 1950.
Toàn cảnh mặt trước chợ Đồng Xuân thập niên 1950.

Chợ Đồng Xuân năm 1954

Hơn 100 năm tồn tại của chợ Đồng Xuân

Chợ Đồng Xuân những năm 1960 – 1970, đông người dân qua lại. Ảnh: Flickr.

Chợ Đồng Xuân vào một ngày mùa đông năm 1976.
Chợ Đồng Xuân vào một ngày mùa đông năm 1976.

Tàu điện chạy qua chợ Đồng Xuân, thập niên 1980.
Tàu điện chạy qua chợ Đồng Xuân, thập niên 1980.

Một hình ảnh đầy hoài niệm về chợ Đồng Xuân năm 1989.
Một hình ảnh đầy hoài niệm về chợ Đồng Xuân năm 1989.

Chợ Đồng Xuân khoảng cuối thập niên 1980, khi vẫn còn 5 dãy.
Chợ Đồng Xuân khoảng cuối thập niên 1980, khi vẫn còn 5 dãy.

Hơn 100 năm tồn tại của chợ Đồng Xuân

Tàu điện trên phố Đồng Xuân. Phía sau về bên phải ảnh là chợ Đồng Xuân với 5 gian. Ảnh: Flickr.

Vào khoảng năm 1990, chợ được xây dựng lại, phá bỏ hai dãy hai bên, ba dãy giữa xây lên ba tầng. Hai tấm cửa hai bên cũng bị dỡ, nhưng vẫn còn giữ hai cột ngoài cùng.

Auto Draft

Đến năm 1994, chợ Đồng Xuân đã bị hỏa hoạn, lửa thiêu trụi gần như toàn bộ gian hàng trong chợ. Đây là vụ cháy chợ lớn nhất tại Hà Nội cho đến nay

Hơn 100 năm tồn tại của chợ Đồng Xuân

Năm 1995, chợ Đồng Xuân được xây dựng lại với số vốn đầu tư 68 tỷ đồng. Ba tầng có tổng diện tích mặt bằng gần 14.000 m2 với khoảng 2.000 gian hàng. Chợ hiện nay có khu giao dịch, bán hàng, nhiều cầu thang, lối đi với ba lối vào phía trước, 3 lối vào phía sau, 2 lối vào phía hông, 2 cầu thang ngoài trời, 5 cầu thang lên các tầng trên và một hệ thống thang má

nhin lai hon 200 nam lich su cho dong xuan xua va nay

Ngày nay, chợ Đồng Xuân vẫn nằm ở khu trung tâm và vẫn giữ được nguyên vẹn đường nét cũng như lối kiến trúc từ thời Pháp.

Hơn 100 năm tồn tại của chợ Đồng Xuân

Trải qua hơn 100 năm, chợ vẫn tồn tại gắn liền với nhiều dấu mốc lịch sử quan trọng của đất nước. Không chỉ là nơi bán buôn huyên náo, chợ còn chứa đựng nhiều giá trị văn hoá, tinh thần của người dân đất Hà Thành. Ảnh được chụp vào năm 2015

—————0————-0—————

HÀ NỘI XƯA – PHỐ ĐỒNG XUÂN

Phố Đồng Xuân (Rue du Riz) dài khoảng một trăm bảy mươi mét, nối tiếp phố Hàng Giấy chỗ ngã tư Hàng Khoai, cắt qua ngã tư Hàng Chiếu, Hàng Mã, qua Ngõ Gạch đến phố Hàng Đường, hướng ra hồ Hoàn Kiếm, thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm. Tên phố Đồng Xuân xuất hiện từ sau năm 1945.

Vị trí phố Đồng xuân

Vị trí phố Đồng xuân

Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ bởi tự thân là một cái chợ lớn đáp ứng nhu cầu một thời là kinh đô của những vùng xung quanh.

Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ bởi tự thân là một cái chợ lớn đáp ứng nhu cầu một thời là kinh đô của những vùng xung quanh, phố Hàng Gạo  xưa nay là phố Đồng Xuân cũng hình thành như vậy.

Toàn cảnh phố Đồng Xuân nhìn từ phố Hàng Giấy. Đền Đồng Xuân trong ảnh nay đã biến thành một cửa hàng, số nhà 83.

Toàn cảnh phố Đồng Xuân nhìn từ phố Hàng Giấy. Đền Đồng Xuân trong ảnh nay đã biến thành một cửa hàng, số nhà 83.

Ngã tư Hàng Khoai - Đồng Xuân

Ngã tư Hàng Khoai – Đồng Xuân

Lúc đầu chợ Đồng Xuân được rào bằng tre nứa, về sau được thay bằng khung sắt, mái tôn. Có năm cầu chợ, mỗi cầu dài 52 m, cao 19m. Chợ khánh thành vào năm 1890.

Lúc đầu chợ Đồng Xuân được rào bằng tre nứa, về sau được thay bằng khung sắt, mái tôn. Có năm cầu chợ, mỗi cầu dài 52 m, cao 19m. Chợ khánh thành vào năm 1890.

Đã bắt đầu xuất hiện đường tàu điện. Nằm gần ga Đầu Cầu, chợ Đồng Xuân là điểm thuận lợi để hàng hóa bốn phương dồn về đây cũng như từ đây tỏa đi các nơi. Khi xây dựng chợ người Pháp để chừa ra một khoảng đất rộng ở đằng trước, sau này là chỗ tránh nhau của đường xe điện Bờ Hồ - Chợ Bưởi. Chỗ đó còn kê mấy ghế đá dưới bóng mát hàng cây.

Đã bắt đầu xuất hiện đường tàu điện. Nằm gần ga Đầu Cầu, chợ Đồng Xuân là điểm thuận lợi để hàng hóa bốn phương dồn về đây cũng như từ đây tỏa đi các nơi. Khi xây dựng chợ người Pháp để chừa ra một khoảng đất rộng ở đằng trước, sau này là chỗ tránh nhau của đường xe điện Bờ Hồ – Chợ Bưởi. Chỗ đó còn kê mấy ghế đá dưới bóng mát hàng cây.

Cảnh buôn bán bên trong chợ, nơi mỗi cầu chợ được dành cho một ngành hàng.

Cảnh buôn bán bên trong chợ, nơi mỗi cầu chợ được dành cho một ngành hàng.

Khu vực bán cây hoa cảnh thu hút các bà đầm. Trong ảnh ta có thể nhận thấy một phần của nhà máy sợi Bourgouin Meiffre (nhà máy sợi Bắc Qua), được xây dựng năm 1891 ở sau chợ Đồng Xuân.

Khu vực bán cây hoa cảnh thu hút các bà đầm. Trong ảnh ta có thể nhận thấy một phần của nhà máy sợi Bourgouin Meiffre (nhà máy sợi Bắc Qua), được xây dựng năm 1891 ở sau chợ Đồng Xuân.

Đường xe điện điện xây dựng ở Hà Nội vào năm 1900

Đường xe điện điện xây dựng ở Hà Nội vào năm 1900

Những bức ảnh thời kì đầu cho thấy mặt tiền của chợ chưa được xây

Những bức ảnh thời kì đầu cho thấy mặt tiền của chợ chưa được xây

Dòng lưu bút đề ngày 17/11/1906

Dòng lưu bút đề ngày 17/11/1906

Chú thích trên ảnh Một ông quan đi bộ trên phố. Có thể nhận ra phố Đồng Xuân nhờ những mái tôn đặc trưng ở bìa phải bức ảnh. Nhóm người, có vẻ vừa thăm chợ ra. Ông quan (không biết có tham) hom hem bên cạnh bà vợ sung mãn. Đoàn người với ô lọng ddi chuyển về hướng phố Hàng Đường.

Chú thích trên ảnh Một ông quan đi bộ trên phố. Có thể nhận ra phố Đồng Xuân nhờ những mái tôn đặc trưng ở bìa phải bức ảnh. Nhóm người, có vẻ vừa thăm chợ ra. Ông quan (không biết có tham) hom hem bên cạnh bà vợ sung mãn. Đoàn người với ô lọng ddi chuyển về hướng phố Hàng Đường.

Dãy nhà số chẵn đối diện chợ Đồng Xuân

Dãy nhà số chẵn đối diện chợ Đồng Xuân

Phố Đồng Xuân là một đường phố ngắn, nhưng lại có vị trí buôn bán thuận lợi. Có thể coi là một bộ phận của chợ Đồng Xuân: các cửa hàng chuyên bán hàng khô để nấu cỗ; có mấy nhà làm và bán hương (Tân Mỹ số 14); thuốc lào (Giang ký số 16 và Xuân Hương số 24); vài ba nhà bán thịt quay; một hiệu đại lý cho nhà máy thuốc lá Yên Phụ.

Đoạn phố Đồng Xuân giáp đầu Hàng Đường (bên số chẵn) có nhiều cửa hàng bán đường mứt, làm các loại bánh cổ truyền (bánh xu xê, bánh mảnh cộng, bánh gấc, bánh cốm), oản bột, bánh khảo, những con giống bằng bột nặn, có hàng cắt giấy bán cho người có điện thờ chư vị, trang trí bàn thờ.

Bên số chẵn cuối dãy giáp phố Hàng Mã có nhiều nhà buôn có cửa hiệu tương đối lớn, mấy nhà xây liền nhau là Hương Lĩnh (buôn tơ sợi số 80), Toàn Thịnh (đóng giày số 84), Đông Mỹ (sản xuất bánh kẹo số 86), nhà thuốc Tây Pharmacie Tín.

Phố Đồng Xuân chỉ có đôi ba cửa hàng của Hoa Kiều: nhà Hà Cự Môn trồng răng giả, trước dọn hàng trong chợ, sau ra phố mở cửa hàng. Nhà Lương Lý bán thực phẩm đồ hộp rượu Tây.

Đoạn cuối phố Hàng Giầy

Đoạn cuối phố Hàng Giầy

Khoảng năm 1920, chợ Đồng Xuân được sửa sang lại. Mặt tiền theo kiến trúc Pháp, gồm năm phần hình tam giác có trổ lỗ như tổ ong. Cây cối chặt quang để mở thành đường phố có vỉa hè, có rãnh thoát nước.

Khoảng năm 1920, chợ Đồng Xuân được sửa sang lại. Mặt tiền theo kiến trúc Pháp, gồm năm phần hình tam giác có trổ lỗ như tổ ong. Cây cối chặt quang để mở thành đường phố có vỉa hè, có rãnh thoát nước.

Hình ảnh chợ tháng Tư năm 1926

Hình ảnh chợ tháng Tư năm 1926

Toàn cảnh 5 khối chợ. Sau vụ cháy năm 1994, khi xây dựng lại chợ, phần mặt tiền chỉ giữ lại 3 khối tam giác, khối thứ nhất và thứ năm đã bị dở bỏ để mở rộng phố Hoàng Khoai và phố Cầu Đông.

Toàn cảnh 5 khối chợ. Sau vụ cháy năm 1994, khi xây dựng lại chợ, phần mặt tiền chỉ giữ lại 3 khối tam giác, khối thứ nhất và thứ năm đã bị dở bỏ để mở rộng phố Hoàng Khoai và phố Cầu Đông.

Hướng chụp về phố Hàng Khoai. Cả bức ảnh trước và bức ảnh này cho thấy đình Đồng Xuân tồn tại đến những năm 20 của thế kỉ trước.

Hướng chụp về phố Hàng Khoai. Cả bức ảnh trước và bức ảnh này cho thấy đình Đồng Xuân tồn tại đến những năm 20 của thế kỉ trước.

Đăng tải tại Hình Ảnh - Tư Liệu Lịch Sử, Phóng Sự - Ký Sự, Tin Tức | Bạn nghĩ gì về bài viết này?