Thợ săn thành phố

Chim trời, cá… phóng sinh

Đặt từng cái bẫy dọc bờ kênh với vài con chim và một ít thóc làm mồi nhử, hằng ngày bà Mười bắt được vài chục con chim sẻ và đó cũng là nguồn thu chính nuôi sống gia đình bà. Còn ông Ái sống với nghề chài lưới hàng chục năm nhưng nay chỉ trông đợi vào nguồn cá phóng sinh vì cá tự nhiên đã cạn kiệt.

Hơn chục năm nay, bà Mười (ngụ phường Tân Định, quận 1, TPHCM) gắn với nghề bẫy chim sẻ. Bà Mười cho biết, cuộc sống gia đình rất khó khăn nên bà làm đủ nghề. Trong một lần đi ngang chợ, thấy người ta mua bán chim sẻ, về nhà thấy có rất nhiều chim thường ăn ở trước cửa nên bà nghĩ cách bẫy chim để bán.

Thời gian đầu chưa có bẫy, để nhử chim, mỗi buổi sáng bà mang thóc, cơm nguội ra rải cho chim ăn, vài lần chim quen rồi bà dùng rổ để sập chim. Có lúc được vài ba con, có khi chim bay đi hết. Bẫy chim bằng cách này, đồ nghề của bà là một khúc cây chừng một gang tay được buộc một sợi dây dài nối từ trong nhà ra rồi dùng khúc cây đó chống chiếc rổ. Bên trong bỏ một ít thóc làm mồi nhử, chim vào ăn bà giật chiếc dây, khúc cây ngã xuống và những con chim đang ăn mồi sập bẫy.

Những chiếc lồng bẫy chim đặt bên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè

“Phải buộc cục đá to vào chiếc rổ để khi giật dây rổ đè xuống, chim không bay đi được. Khi sập được thì khẽ nâng chiếc rổ lên rồi thò tay vào bắt chim, có khi vừa nâng rổ lên thì chim lao ra, bay mất”, bà Mười nói.

Bà Mười cho biết, bẫy kiểu này khiến chim sợ, có khi không dám quay lại nữa nên mỗi địa điểm bà chỉ sập được vài lần là phải đi nơi khác. Sau nhiều lần đi bán chim, bà được những người bẫy chim khác chỉ cho cách trang bị bẫy sập và chim mồi.

Theo bà Mười, những chiếc bẫy này rất tiện dụng và khi sập cũng không làm những con chim khác hoảng sợ. Bằng cách này, mỗi ngày bà bắt được hàng chục con chim và không cần phải di chuyển địa điểm.

Chính vì bẫy được nhiều chim mà mỗi ngày số bẫy chim của bà tăng lên, đến nay, bà sắm hàng chục chiếc bẫy. Bẫy chim của bà Mười được thiết kế với chiếc lồng ở giữa dùng để thả chim mồi, bốn bên được chia thành nhiều ô, mỗi ô có que gài và nắp sập. Khi chim nhảy vào đụng phải que gài có lò xo thì cửa ô đó sẽ sập xuống nhốt con chim lại, còn những ô khác vẫn mở cửa đợi chim nên một chiếc lồng như thế bà có thể bẫy được cả chục con.

“Ô ở giữa để thả chim mồi, có chim mồi trong đó nó kêu thì những con chim trời nghe thấy sẽ bay đến ăn. Nếu nhảy vào ô chứa thóc thì dính bẫy là cái chắc”.

Một người chuyên bẫy chim để bán cho người dân phóng sinh vào dịp rằm tháng 7

Mỗi buổi sáng, bà mang hàng chục chiếc bẫy ra đặt dọc bờ kênh, rải nắm thóc làm mồi nhử, ngày đi thăm vài lần, bẫy nào dính chim bắt xong bà lại gài lại như cũ. Hằng ngày bà bắt hàng chục con chim bán với giá 5.000 đồng/con, mỗi ngày kiếm được một hai trăm nghìn nuôi cả gia đình.

Về công việc của mình, bà Mười nói: “Đó là cái nghiệp chứ không phải nghề, chim thì bán cho các đầu mối. Nhưng khi mua về họ nhốt trong lồng dày đặc, có khi họ đâm mù mắt, cắt lông cánh để chim không bay xa được.

Khi có người mua chim để phóng sinh thì chim chỉ bay luẩn quẩn rồi họ bắt lại, bán tiếp. Mình làm như thế này cũng là việc ác. Nhưng nếu không nhờ những con chim trời này thì không biết sống bằng cách nào”.

Trông chờ cá phóng sinh

Dọc bờ sông Sài Gòn, nhiều gia đình không nhà, không đất, họ chỉ có một cái ghe nhỏ để cả gia đình ba bốn người chui ra chui vào, vừa là phương tiện mưu sinh cũng là nơi trú ngụ.

Hằng ngày, họ giăng lưới, quăng chài bắt cá kiếm cơm. Khi nguồn cá thiên nhiên gần như cạn kiệt, họ chỉ trông chờ vào cá phóng sinh. Hễ thấy có người chở những bao tải cá ra giữa lòng sông đổ xuống là họ lại dong xuồng ra quây khu vực gần đó để bắt. Gia đình ông Nguyễn Văn Ái (53 tuổi, quê Nam Định) là một trong số đó.

Mỗi chiếc bẫy được thiết kế nhiều lồng riêng để bẫy được nhiều chim.

Ông Ái cho biết, cách đây hơn chục năm ông cùng vợ rời quê vào Sài Gòn kiếm sống, không có nghề nghiệp gì, ông theo một người dân chài khác rồi sắm được một chiếc ghe nhỏ. Hai vợ chồng cùng đứa con lấy ghe làm nhà, mọi sinh hoạt đều trên ghe. Lúc ông mới hành nghề, cá trên sông Sài Gòn còn rất nhiều, chỉ cần vài ba lần quăng chài là có. Thế nhưng, đến nay thì đánh cả ngày cũng chỉ được vài con cá lia thia.

Ông Ái nói: “Thời đó dòng sông rất nhiều cá, mỗi ngày hai vợ chồng cũng kiếm được cả chục kí cá, tôm các loại. Cá đánh được, những con nhỏ, chết thì để lại ăn còn lại đem ra chợ bán mua gạo, nước. Cuộc sống thời đó không khấm khá nhưng cũng không đến nỗi khó khăn, ngày hai bữa vẫn lo được”.


Chiếc vợt điện rà qua rà lại khiến cá nổi la liệt

Tuy nhiên, càng ngày dòng sông càng bị ô nhiễm và cá cũng ít dần. Cả ngày lênh đênh trên sông có khi chỉ kiếm được vài kí cá rô, cá trê. “Ngày trước còn kiếm được đồng ra đồng vào, dư dả chút ít. Nay thì đánh cả ngày vẫn cũng chỉ đủ mua được hơn kí gạo với vài cọng rau.

Cuộc sống của người ta ngày càng ổn định thì mình ngày càng đi xuống. Giờ già cả rồi cũng không biết làm gì, đành cố gắng bám sông kiếm cơm cháo qua ngày. Không có tiền tu sửa nên chiếc ghe lâu dần hư hỏng, bạt che cũng rách nát, mưa xuống là tạt tứ phía.

Có hôm, buổi tối ngủ quên, nước lên thấm vào, ghe chìm, lưng ướt mới tỉnh dậy. Bao nhiêu đồ đạc, cơm gạo gì cũng ướt hết” – ông Ái kể.

Cũng như ông Ái, gia đình ông Nguyễn Văn Chúc đã gắn với chiếc ghe hơn bốn chục năm qua. Tuy nhiên, ngày nay nghề chài lưới không còn là đường kiếm cơm của ông. Sau hàng chục năm gắn bó với nghề chài lưới và con sông, nay ông chuyển nghề, chủ yếu là chở người đi thả cá phóng sinh, tìm người mất tích dọc sông Sài Gòn hay ai thuê gì làm nấy cũng chỉ cố kiếm được hai bữa cơm.

Mỗi lần có người chở cá đến thả là vài ba chiếc xuồng của dân chài lại mấp mé bên bờ. Khi người thả cá rời khỏi là họ vây quanh khu vực vừa thả cá để đánh. Theo ông Chúc, cá phóng sinh chủ yếu là cá nhỏ, có đánh được thì bán cũng chẳng được bao nhiêu và mang thêm cái tội vào người. “Sống nhờ vào ba con cá phóng sinh, bắt thì thấy kì, mà không bắt thì không có gạo mà sống”, ông Chúc nói.

Mỗi buổi sáng bà Mười đặt bẫy chim sẻ dọc bờ kè.

Theo ông Chúc, làm nghề chài cá này khổ nhất là lúc quăng chài, thả lưới mà bị vướng phải đá hay cành cây dưới đáy sông. Mỗi lần bị vướng là phải lặn xuống dòng nước đen kịt để gỡ ra.

“Ngâm nước nhiều năm bây giờ các khớp xương như bị rão hết. Mỗi khi trái gió trở trời là lại đau nhức. Thế nhưng cũng không thể rời khỏi dòng sông này được. Dòng sông này như người mẹ nuôi tôi từ khi còn trẻ đến khi gần đất xa trời”.

Tận diệt

Quăng chài, thả lưới cả ngày cũng không đủ sống họ tìm cách khác, sắm chích điện để bắt tất cả những sinh vật gì có thể bắt được. Hằng ngày, hai bên bờ sông Sài Gòn có rất nhiều người dùng chích điện để bắt cá.

Khi bị chích điện, từ cá lớn, cá bé đến các loại tôm tép chỉ bằng cái tăm sống dọc hai bên bờ sông đều chết nổi bụng. Người ta lựa những con to, còn lại đa số bị chích điện chết rồi bỏ lại. Mỗi lần có ghe chích điện đi qua đoạn nào là phía sau đủ các loại tôm cá nổi trắng phau trên mặt nước.

Thanh minh cho việc làm của mình, anh Nguyễn Xuân Hoàng (người chuyên chích điện bắt cá) nói: “Giờ cá trên sông thì ít, người đánh bắt thì nhiều. Hơn nữa, lòng sông nước sâu và ô nhiễm nên dùng chài lưới mà đánh thì cả ngày có khi không đủ bữa cơm”.

Tuy tiêu diệt rất nhiều loài sinh vật hai bên bờ sông nhưng những người đánh cá bằng cách chích điện cũng chỉ thu về được những con cá nhỏ, chủ yếu là cá phóng sinh do chưa thích ứng được với nguồn nước nên dồn vào bờ để bám trụ. “Dùng chích điện đi dọc bờ sông như thế này cũng chỉ đánh được các loại cá nhỏ như ngón tay là chủ yếu, cá lớn sống ở vùng nước sâu hơn”.

ống trắm đánh lươn

Đi dọc bờ kênh, những khu chợ tự phát bên đường trên địa bàn quận 2, TPHCM, khi hỏi đến vợ chồng anh Nguyễn Văn Nam (42 tuổi) và chị Lê Thị Tuyết (39 tuổi, quê Tây Ninh) đánh lươn, hầu như ai cũng biết.

Hai vợ chồng anh và đứa con nhỏ chưa đầy 2 tuổi ngày nào cũng trên chiếc ghe nhỏ đi khắp các con kênh, dọc bờ sông để đặt ống trúm bẫy lươn. Anh làm nghề này từ khi còn trẻ đến nay cũng đã hơn 20 năm. Hầu hết kênh, rạch ở Sài Gòn anh cũng đã từng đặt chân đến.

Hằng ngày, anh chị đi từ sáng, đến xế chiều mới đặt xong hơn trăm cái ống lươn. Đặt ống lươn xong hai vợ chồng cùng đứa con nhỏ lại dong ghe đi thả lưới, bắt cá. Đối với vợ chồng anh thì săn lươn mới là nghề chính, thả lưới bắt cá chỉ là phụ và chủ yếu để lấy cá về làm mồi săn lươn.

Theo anh Nam, thời gian đầu chủ yếu anh dùng trùn (giun đất) làm mồi. Ngày nào anh cũng đều đi đãi trùn chỉ ở sông. Tuy nhiên, dùng trùn làm mồi không lươn không thích nên mỗi ngày đặt mấy chục chiếc ống bẫy cũng chả kiếm được bao nhiêu.

“Hồi đó nhiều người đi đánh lươn cũng dùng trùn làm mồi nhử nên mình học theo. Ngày nào cũng trầm mình dưới sông, lấy rổ đãi một mớ trùn về làm mồi. Đãi trùn vất vả thế nhưng về đánh, lươn không ăn nhiều nên mỗi ngày chỉ kiếm được vài kí là cùng”, anh Nam nói.

Một thời gian dài dùng trùn làm mồi nhưng không hiệu quả, anh Nam tìm nhiều cách chế mồi cho lươn dễ phát hiện và làm sao thu hút được lươn vào trong ống.

“Nhiều lần mình mua các loại mồi câu ở các tiệm câu cá về đánh nhưng vẫn không hiệu quả. Nghĩ đi nghĩ lại thì đồ ăn thiên nhiên vẫn thích hợp hơn. Mình đi bắt cá về luộc lên rồi bóc thịt làm mồi. Không ngờ lươn lại thích ăn cá luộc”.

Sau khi phát hiện ra cá luộc có sức hấp dẫn đối với lươn, anh Nam sắm thêm bộ chài lưới để đi bắt cá. Hằng ngày, khi đặt ống lươn xong, anh đem lưới đến những khu vực khác thả. Một mặt kiếm thêm thu nhập, mặt khác, anh bắt cá về làm mồi bẫy lươn.

Mỗi ngày anh Nam đặt ống lươn vào buổi trưa, chiều hôm sau đi thu lại.

Anh Nam cho biết, làm mồi săn lươn cũng rất công phu vì nếu không đạt thì khó thu hút lươn, còn nếu không cẩn thận thì mồi tan vào nước rất nhanh. Để có đủ mồi cho 100 ống lươn, mỗi lần làm anh phải luộc hơn 2kg cá rô phi. Sau đó lột lấy thịt rồi bóp nát, trộn với đất bùn có độ ẩm vừa phải.

Kết quả hình ảnh cho bẫy lươn đồng

“Số lượng bùn và cá phải phù hợp, nếu nhiều bùn mà ít cá thì sẽ không có mùi, ít bùn nhiều cá thì mồi tan rất nhanh. Trộn cá với đất xong nắm thành từng viên nhỏ sao cho chắc, khi xuống nước lâu bị tan thì mồi mới đạt. Khi cắm ống xuống nước, mồi sẽ ngấm nước và tan từ từ, lan tỏa ra ngoài, lươn đánh mùi được sẽ tìm đến chui vào ăn”.

Hàng chục năm săn lươn, từ khi giá lươn chỉ có mấy chục ngàn một kg, đến nay, anh chị bán dọc đường cũng trên 200 nghìn/kg. Ngày nào gặp may, vợ chồng anh đánh được cả chục kí lươn, kiếm được cả triệu đồng. Tuy nhiên, bình thường, mỗi ngày anh chị chỉ đánh được vài kí, trừ tiền xăng, ăn uống sinh hoạt chỉ còn dư chút ít.

Đặt nhiều nơi, nhiều chỗ, nhiều khi cũng làm mất ống lươn vì không nhớ hết vị trí. Anh Nam nói: “Ngày trước, một mình đi chỉ đặt dăm chục cái là cùng, nhiều lúc không nhớ chính xác vị trí đặt nên khi nước lớn không tìm ra, phải đợi đến khi thủy triều xuống, nước rút hết thì mới đến tìm. Nhiều khi bị nước cuốn hoặc bùn vùi lấp coi như mất luôn”.

Để không bị mất ống lươn, anh Nam tìm cách đánh dấu từng vị trí đặt làm sao cho dễ nhớ. “Ban đầu mình lấy sợi dây cước dài, có màu buộc vào để nước lên thì sợi dây vẫn nổi mình dễ nhìn thấy. Nhưng buộc dây như vậy tàu bè chạy qua nhiều khi bị cuốn vào chân vịt rồi kéo cả ống đi mất, nên sau này cứ đặt ống ở đâu là mình bẻ gập một cành cây ở sát bên đó làm dấu”. Anh Nam nói thêm, ngày xưa tập tễnh vào nghề thường hay bị mất, nhưng nay mất ống lươn là hi hữu.

Anh Nam kể, vợ chồng anh bén duyên cũng nhờ vào nghề săn lươn này. Khoảng năm 2007, trong một lần đặt ống lươn trên kênh ở quận 2 thì gặp chị cũng đang đi đặt ống lươn.

“Lúc đó mình gặp vợ đang một mình chèo ghe đi giống mình nên chạy lại gần bắt chuyện. Nhiều lần gặp nhau trên sông nói chuyện mới biết cô ấy cũng cùng quê và đến đây làm cùng nghề nên thấy hợp nhau. Quen nhau được khoảng hơn một năm thì cưới, rồi hai vợ chồng chuyển ra ở trên chiếc ghe đến nay luôn”.

Cả gia đình sống trên ghe từ ngày này qua ngày khác. Mỗi ngày chỉ lên bờ một lần vào tầm xế chiều, sau khi thu được lươn mới lên để đi bán. Lúc này, đứa con trai nhỏ của anh chị cũng mới được lên bờ. Trò chơi duy nhất của bé là bốc cát, chạy chơi xung quanh bãi đất trống trong lúc mẹ bán hàng ngoài đường. Đến chập tối cả gia đình quay về với chiếc ghe, lấy nước sông tắm.

Câu cá trên vỉa hè

Thay vì xách cần câu ra sông, hồ câu cá, một số người dân Sài Gòn chọn cách ngồi câu ngay trước cửa nhà, trên vỉa hè nhưng vẫn được rất nhiều cá, đặc biệt là cá trê và cá rô đồng. Mỗi ngày ngồi bên miệng cống, anh Hải kiếm được vài kí cá rô đồng, cá trê, lâu lâu gặp may, cá tra vài kí cũng dính câu.

Không kể ngày làm hay nghỉ, cứ mỗi khi có thời gian rảnh là anh Nguyễn Tuấn Hải (22 tuổi, ngụ quận 2, TPHCM) lại xách cần câu đi dọc các tuyến đường gần bờ sông, kênh rạch để tìm địa điểm câu cá. Vị trí ưa thích của anh không phải là bờ sông, hồ nuôi mà là những miệng cống.

Nhóm của Toàn câu cá trên đường Nguyễn Tất Thành, quận 4.

Anh Hải cho biết, cứ đến mùa mưa là các loại cá thường ngược nước đi tìm chỗ đẻ, đa số là cá rô, trê, cá lóc, kể cả cá tra cũng hay men theo các cống thoát nước để đẻ. Vì vậy, cứ đến mùa mưa là hầu như ngày nào anh cũng xách cần đi câu, và lần nào cũng nặng cần.

Theo anh Hải, khó nhất là làm sao để tìm được miệng cống có nhiều cá đến ăn. “Các miệng cống mà người ta mới mở lên để bơm nước hay có người bơm nước xả xuống là thích hợp nhất. Tìm được những miệng cống như thế này chỉ cần lấy khúc cây quấy thật mạnh cho động nước, sục bùn lên, khi đó cá trê sẽ tìm đến kiếm mồi. Chỉ cần móc mồi thả câu là cá sẽ dính ngay”.

Cá sống trong cống thoát nước chủ yếu là loài tạp ăn nên mồi câu của anh Hải cũng khá đơn giản, chỉ một bịch trùn và ít dế đất. Mỗi khi tìm được miệng cống ưng ý, anh dùng hai cần câu để săn cá. Tuy nhiên, nhiều lúc cá ăn liên tục khiến anh không kịp giật nên phải cất một cần.

“Câu cá miệng cống không cần cầu kì, chỉ cần một đoạn dây cước vừa đủ dài, cần càng ngắn càng dễ câu vì không phải giật mạnh. Cá ăn mồi chỉ cần cầm cần câu nhấc lên, túm dây cước kéo là được”.

Anh Hải cho biết, nếu tìm được miệng cống tụ đủ yêu cầu, một tiếng anh có thể câu được vài kí cá. “Câu cá trên miệng cống cũng có cái thú riêng. Nhiều khi ngồi câu miệng cống được nhiều cá hơn ngoài sông.

Vào hồ dịch vụ thì tốn tiền mà có khi ngồi cả buổi cũng không được con nào. Tuy nhiên, nếu không may mở phải nắp cống lâu ngày không thoát nước thì khó mà chịu được. Mùi từ dưới cống xộc thẳng lên, nếu hít phải có khi ói luôn”.

Cũng như anh Hải, mỗi khi triều cường lên hay trời mưa lớn người dân sống hai bên đường Nguyễn Tất Thành, quận 4, TPHCM lại xách xô ra miệng cống ngồi câu cá. Nhiều nắp cống nằm giữa lòng đường cũng bị trưng dụng. Trẻ con câu, người lớn câu, những người làm việc ngay bên đường hễ có thời gian rảnh cũng tranh thủ ngồi câu cá ngay trước cửa hàng.

Đồ nghề của những người câu cá ở miệng cống trên đường Nguyễn Tất Thành, quận 4 rất đơn giản, chỉ cần một sợi dây cước gắn lưỡi, một bịch dế là ngồi suốt buổi. “Cần câu” của họ là những lon bia, vỏ chai nước ngọt. Tìm đến nắp cống bằng sắt hoặc có lỗ thoát nước lớn là luồn dây câu qua khe hở là có thể có mồi nhậu.

Em Nguyễn Văn Toàn (12 tuổi) chiều nào đi học về cũng rủ bạn ra ngồi câu. Nhiều người lớn thấy em câu được cũng ra câu chung. “Cá bọn em câu chủ yếu là cá rô, cá trê nhỏ cỡ hai ngón tay. Còn mấy người lớn câu có khi được cá trê lớn, phải nhấc nắp cống lên mới bắt được cá”.

Advertisements

About dontruongbt

Phong Kiến Đại Sư
Bài này đã được đăng trong Phóng Sự - Ký Sự. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s