Món Ngon Từ Đất

Những người “ăn đất” cuối cùng

Món “bánh đất” nổi tiếng 

Đến tổ dân phố Thống Nhất (thị trấn Lập Thạch), nhiều người sẽ không khỏi ngạc nhiên, khi những đứa trẻ trong làng nhắc đến món “bánh ngói” nổi tiếng của vùng đất núi này. Lạ, bởi từng nghe nơi đây nổi tiếng với tục ăn đất, nhưng món “bánh ngói” lại ít được nhắc tới. Hỏi ra mới hay, món ăn ấy chính là tên gọi khác của món bánh đất “đặc sản” nổi tiếng khắp cả nước, chỉ có ở vùng Lập Thạch. Khi câu chuyện lạ “cả làng ăn đất” được báo chí đăng tải và được công nhận là “chuyện lạ Việt Nam”, người dân nơi đây phải tập làm quen với những cuộc viếng thăm của khách phương xa. “Định đến tìm hiểu về cách ăn đất à? Chẳng có gì đâu, cứ cầm lên và ăn thôi”, thấy bộ dạng lạ của chúng tôi, người đàn ông trung niên ngồi trong quán nước gần đó nói vẳng lại và lấy ra một vật có hình thù lạ.

Chưa kịp hỏi lại, người đàn ông đã cầm vật giống như cục đá bỏ vào miệng và ăn ngon lành trước mắt chúng tôi, mấy người ngồi xung quanh thấy vậy cũng cười sảng khoái. “Đó là món đất, thứ mà chúng tôi vẫn dùng để ăn, giống như người ta ăn sắn, ăn cơm vậy”. Dù đã được biết đến tục ăn đất của người dân địa phương nơi đây, nhưng chứng kiến cảnh tượng vừa rồi, nhiều người trong chúng tôi vẫn thấy khó tin. “Ở đây, trẻ con cũng ăn món này như ăn kẹo, không nhà nào trong làng là không biết đến món đặc sản này”, ông Trần Văn Ngôn (60 tuổi) – người chỉ dẫn cho chúng tôi – khẳng định.

Khi được hỏi, ông Ngôn cho biết, tục ăn đất ở đây đã có từ rất lâu, không ai nhớ rõ. Chỉ biết rằng, thế hệ các ông sinh ra, đã thấy người lớn ăn đất và từ nhỏ các ông cũng được nếm thử vị đặc sản quê. Ngồi kế bên, anh Nguyễn Công Hoài (28 tuổi) không tỏ ra mặn mà lắm với món ăn, song cũng biết về lịch sử của “đặc sản” quê hương. Nhiều người cho rằng, cách đây chừng chục năm, khi thị trường chưa có nhiều đồ ăn, thức uống như bây giờ, cả thị trấn Lập Thạch được biết đến là chợ đồ ăn đất lớn nhất của khu vực các tỉnh phía Bắc. Thậm chí, qua chế biến, người dân nơi đây còn làm cho những tảng đất trở thành món “bánh đất”, “bánh ngói” khá nổi tiếng của vùng. Khi chúng tôi cho rằng tục ăn đất tại địa phương giờ đã mai một, ông Nguyễn Ngọc Nghĩa – Chủ tịch UBND thị trấn Lập Thạch – lí giải, tục lệ này nay chỉ còn ở một số gia đình, người dân, chủ yếu là người cao tuổi không từ bỏ thói quen cũ. “Khoảng 20-30 năm trước, đất ăn được bày bán tràn lan ở chợ, chợ nào cũng có gian hàng bán đất, như bán rau, bán thịt”, ông Nghĩa cho biết.

Theo ông Nghĩa, Lập Thạch từng là đầu mối cung cấp đất ăn cho rất nhiều địa phương khác trong, ngoài Vĩnh Phúc như: Tam Dương, Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc); Lâm Thao, Phù Ninh (Phú Thọ), xa hơn là ở tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang cũng tìm về mua ăn. “Đã một thời, Lập Thạch có món bánh đất ăn nổi tiếng vì độ dẻo, lạ, ngậy”, vị chủ tịch cho hay.

  Người dân Lập Thạch ăn đất một cách ngon lành trước sự ngạc nhiên của du khách. 

Ăn rỗng “ruột” đồi

Trong câu chuyện, vị chủ tịch thị trấn Lập Thạch kể cho chúng tôi nghe những mẩu chuyện vui đến từ chính tục ăn đất của người dân. Theo ông Nghĩa, Lập Thạch vốn là vùng đất núi, nhiều đồi, tuy nhiên, cách đây vài năm, đến bất cứ đồi đất của gia đình nào cũng thấy nhiều hang sâu. Đó là những nơi người dân moi đất để ăn. Bởi, đất ăn tại đây không phải là thứ đất thông thường ngoài vườn, ngoài ruộng. Để lấy được loại đất ăn này, người dân nơi đây phải đào sâu xuống lòng đất gần chục mét. Đến khi gặp những vỉa đất màu trắng, tinh khiết, như những cục phấn, như ruột củ sắn, có vân thì đó là đất ăn được. Thậm chí, người ta còn đào xuyên thành những đường hầm trong lòng đất, giống như đào vàng. “Nhiều khu đồi tại đây rỗng ruột cũng là vì thế, một thời, người dân còn ăn nhẵn cả mấy quả đồi”, vị chủ tịch nói vui.

Trước hiện tượng người dân ăn đất từng diễn ra phổ biến tại Lập Thạch, nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong lĩnh vực địa chất, văn hóa đã tổ chức khảo sát, hội thảo và lí giải về hiện tượng này. Các phân tích cho rằng, món đất này chứa nhiều canxi, nên những người thiếu canxi, thiếu sắt tìm ăn để bổ sung vi chất cho cơ thể (thường là các bà bầu, người già). Do ăn quen miệng rồi bị nghiện, cộng với điều kiện xưa còn thiếu thốn nên nhiều người vẫn giữ thói quen này tới lúc già.

Vị chủ tịch thị trấn nhớ lại, khi khu thị trấn nhỏ bé bỗng nhiên trở nên nổi tiếng với hiện tượng “ăn đất”, “ăn ngói”, nhiều người già tại địa phương đã được mời ra Hà Nội để tham dự hội thảo và trực tiếp biểu diễn chế biến, ăn đất. Cụ Nguyễn Thị Lạc là một trong những đại diện được mời tham gia giới thiệu về tục ăn đất ở Lập Thạch. Sau khi chế biến, những thỏi đất nạc, bùi nhất được cụ đưa ra mời đại biểu, khi ăn ai nấy đều ngạc nhiên, bởi đất không hề có sạn và vị ngai ngái. Dù cụ Lạc đã mất cách đây vài năm, nhưng nhắc đến tục ăn đất, nhiều người vẫn nhắc đến cụ.

Tuy nhiên, cũng sau sự việc đó, nhiều người lại thi nhau kéo về làng tìm hiểu, khiến cuộc sống nơi đây bị đảo lộn. Thậm chí, nhiều người còn tò mò hỏi mua đất. Bán được tiền, dân địa phương thi nhau đào đất, thành thử nhiều quả đồi đã bị khoét vẹt đi. Ngọn đồi Bò Vàng thuộc địa bàn tổ Thống Nhất là một ví dụ điển hình. Nếu như nhiều quả đồi đều có đất ngói nhưng chỉ là ngói dắt, lẫn nhiều tạp chất thì đồi Bò Vàng nhiều đất “nạc”, vừa béo lại không sạn, không chát. Có thời điểm, nhu cầu sử dụng đất ăn lớn, người dân đua nhau đi đào đất, khiến ngọn đồi không còn lành lặn. Nhằm hạn chế tình trạng xói mòn, nguy hiểm khi người, động vật đi lại trên đồi có thể sa xuống hố, chính quyền đã yêu cầu người dân phải lấp lại những hố đào và cấm việc đào bới đất như vừa qua.

 Bà Khổng Thị Biện đang gọt đất sau khi đào về.

Những người “ăn đất” cuối cùng của làng

Giờ đây, khi câu chuyện về chiếc “bánh đất”, “bánh ngói” không còn xa lạ, thì tại quê hương của món bánh này, những người gắn bó với nó cũng không còn nhiều. Cụ Khổng Thị Nồi, Nguyễn Thị Lạc vẫn được nhắc đến là những người có quan hệ gắn bó lâu đời nhất với tục ăn đất của làng, các cụ đã ăn đất cho tới lúc cuối đời. Ở vào tuổi ngoài 80 nhưng vợ chồng bà Khổng Thị Biện, Khổng Văn Loa vẫn giữ thói quen “ăn đất”. Con cháu bà cũng duy trì thói ăn này. Trong ngôi nhà nhà lụp xụp, còn nguyên vách đất, vợ chồng bà Biện tiếp chuyện chúng tôi khá cởi mở. Dù ở tuổi “cổ lai hy”, nhưng sức khỏe của hai vợ chồng bà vẫn rất đáng nể. “Nhờ ăn bánh ngói đấy, bảo mình nhịn cơm thì được đôi bữa, chứ nhịn ăn ngói thì chịu thôi”, bà Biện cho biết.

Trong câu chuyện mà những nhân chứng gắn với món “bánh đất” kể, có không ít chuyện kì thú, gắn liền với nét văn hóa, tín ngưỡng mà người dân địa phương nơi đây còn lưu giữ. Không để chúng tôi phải chờ lâu, bà Biện lóc cóc bê ra ít đất đã đào sẵn và mời chúng tôi ăn. Thấy chúng tôi có vẻ ngần ngại, bà Biện liền với lấy một miếng đưa lên miệng ăn ngon lành. Ăn đất từ năm 20 tuổi, đến nay đã có trên 60 năm ăn món ăn này, bà Biện cho biết, cách thức chế biến đất thành ngói để ăn cũng khá đơn giản.

Đất sau khi được đào về, cắt thành thỏi vừa miệng, sau đó cho vào rổ, đặt lên bếp kiềng rồi châm lửa vào rơm ẩm để lấy khói. Khói rơm sẽ quyện lấy những cục đất trong rổ độ 30 phút đến một tiếng đồng hồ, khi cục đất trắng xóa chuyển sang màu ám khói vàng nhạt, thì ăn được. Tuy nhiên, để món ăn có mùi vị đặc biệt, hấp dẫn hơn, người ta cũng có thể cho thêm gia vị, như: Rải các loại lá như lá sim, lá ổi xuống dưới đáy và phủ lên mặt rổ đựng đất trước khi nướng. “Nhà tôi chỉ làm kiểu này khi bán cho khách vì đòi hỏi độ hấp dẫn cao, chứ bình thường thì làm đơn giản thôi, mình ăn quen rồi”, bà Biện cho biết.

Theo bà Biện, tục ăn đất có từ bao giờ, thế hệ trước cũng không rõ, nhưng từ năm 1945 thì đã có nhiều người ăn. Đặc biệt, theo bà Biện, những người ăn bánh ngói đều có tuổi thọ khá cao. Người thấp tuổi thì cũng thọ đến 80, trường thọ thì 100 tuổi và hơn thế nữa. Với gia đình bà Biện, như đã trở thành một lệ quen, cứ mỗi khi gia đình có đám, món “bánh ngói” luôn là thành phần không thể thiếu. “Từ xa xưa, ông cha đã ăn món ăn này, nên trong giỗ, lễ tết càng không thể thiếu được bánh ngói”, bà Biện cho hay. Trong ký ức của chị Nguyễn Thị Khuyên, con dâu bà Biện, khi chị làm dâu nhà bà Biện (năm 1989), cảnh chợ “bánh ngói” vẫn diễn ra tấp nập. Chị cũng là một trong những người bán “bánh ngói” cuối cùng của đất Lập Thạch.

————————

Cụ Biện cầm miếng đất bỏm bẻm nhai một cách ngon lành. Cụ vừa ăn vừa cầm một miếng khác mời chúng tôi, “ăn thử đi các cô chú, ngon lắm, ăn vào là nghiện đấy”.

Tốn khá nhiều công sức để tìm về nơi cất giữ nét văn hóa kỳ lạ này, bởi lẽ cái tục ăn đất hiện nay chỉ duy nhất một người trong thôn còn lưu giữ. Hỏi thăm, người thì bảo “giờ làm gì còn ai ăn nữa”, có người nói “không biết giờ có còn ai giữ tục này không”.

Giờ còn rất ít người thích ăn những miếng đất ngói như thế này.

Loanh quanh mãi ở Lập Thạch, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được đến nhà cụ Khổng Văn Loa và Khổng Thị Biện – những người ăn đất cuối cùng sống tại thôn Thống Nhất, xã Xuân Hòa, thị trấn Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngôi nhà nhỏ của 2 cụ mang đến cho chúng tôi cảm giác hồi cổ với nếp nhà tranh, vách đất – cấu trúc nhà truyền thống của người Việt xưa. Cả 2 cụ năm nay đã vào tuổi 79, “cái tuổi gần đất, xa trời”. Khi gặp chúng tôi, cụ Loa niềm nở tiếp chuyện, cụ bảo: “Bây giờ không mấy ai ăn đất nữa, chỉ còn mỗi nhà tôi thôi, bà nhà tôi hôm nay đi chợ bán đất, chắc cũng sắp về rồi”.

Cụ Biện, có lẽ là một trong những người “ăn đất” cuối cùng.

Chờ khoảng 30 phút thì cụ Biện đi chợ về. Cụ Biện chia sẻ, đồi Vàng nhà cụ là nơi có nhiều đất ngói nhất. Để lấy được loại đất ăn được, phải đào một hố sâu khoảng 3-4m, lật hết lớp đất màu vàng bên trên mới đến lớp đất ngói này. Đất ngói đào lên, đem phơi khô, sau đó chẻ thành những miếng nhỏ theo thớ đất, cạo hết lớp ken đất bên ngoài sẽ còn lại miếng đất trắng tinh như thạch cao. Khi ăn sẽ “chế biến” cho hương vị của miếng đất thêm thơm bằng cách riêng của nơi đây.

Cụ Biện hào hứng đi vào góc nhà, mang ra một túi đất ngói đã được phơi khô, từng miếng đất trắng như thạch cao. Cụ bảo: “Đây là đất chưa “hun”, đào được từ mấy ngày trước, tôi cất đi, khi nào muốn ăn sẽ mang hun”. Hiện tại, đồi Vàng nhà cụ vẫn còn 2 cái hố sâu, dấu vết của việc đào đất ngói.

Cụ Biện bên hố đào đất ngói.

Chúng tôi được chứng kiến tận mắt các công đoạn “chế biến” món đất ngói của cụ Biện. Đất ngói sau khi phơi khô, chẻ thành từng miếng nhỏ sẽ được đặt trên một chiếc rổ thưa.

Cụ Biện lưng đã còng vì tuổi tác nhưng vẫn khá nhanh nhẹn và khỏe mạnh. Cụ đi lên đồi, ngay ở đằng sau nhà hái một ít lá sim còn tươi, quay về rút một nắm rơm khô cầm trong tay, cụ vào bếp nhóm lửa, sau đó để rổ đất lên cho miếng đất quyện với làn khói lá sim. Khoảng 15 phút, miếng đất được hun ngả sang màu vàng và có mùi thơm đặc trưng do khói lá sim đã quyện vào.

Cụ Biện ra vườn hái một ít lá sim.
Hun cho miếng đất quyện mùi khói lá sim.

Cụ Biện hào hứng với những miếng đất thơm vàng vừa hun xong, cụ cầm nhai ngon lành và không quên mời chúng tôi cùng ăn thử. Cụ chia sẻ: “Ngửi mùi khói đã thấy thèm rồi, miếng ngói mùi thơm, vị bùi bùi, càng nhai càng ngon”. Cụ Loa kể: “Ăn cái này nhiều người còn nghiện đấy, nhất là các bà bầu ngày xưa đi chợ cứ phải ngồi xuống hàng đất ngói đầu tiên, mua vài miếng ngồi nhai rồi mới đi đâu thì đi”.

Cụ kể, ngày xưa, có người thèm quá còn ra những nơi có đất ngói, nhặt những mảnh vụn rồi cứ thế ăn mà không cần chế biến.

Cụ Biện bùi ngùi chia sẻ thêm với chúng tôi: ngày xưa mới có nhiều người ăn, bây giờ chả còn ai ăn đất nữa, “Trẻ con có nhiều bánh, kẹo ngon hơn nên không đứa nào thèm ăn đất nữa”, cụ tỏ vẻ luyến tiếc.

Hiện tại, thỉnh thoảng cụ vẫn đi chợ bán, nhưng không mấy người mua nữa, số người “ăn đất” nay còn lại rất ít, hoặc bán cho khách du lịch mua về làm kỷ niệm.

Tục ăn đất được coi là một nét văn hóa độc đáo đang dần mất đi. Hình ảnh cụ ông, cụ bà cầm miếng đất nhai bỏm bẻm chả mấy nữa sẽ không ai còn được bắt gặp.

——————-0————-0———————

Món ngon từ mối đất

Sinh sống giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, người Cơ-tu ở Tây Giang nói riêng và ở các huyện miền núi trong tỉnh nói chung có rất nhiều món ăn tuy đơn giản về cách chế biến nhưng rất đậm đà, ngon miệng. Nhiều món ăn đã trở thành nét độc đáo trong nghệ thuật ẩm thực của đồng bào. Con mối chính là một trong những nguồn nguyên liệu dùng để chế biến các món ăn, được nhân dân sử dụng nhiều trong đời sống hằng ngày cũng như trong các bữa tiệc đãi khách, liên hoan…

Mối đất là một loài côn trùng, sống theo đàn, cánh mỏng, thân dài khoảng hơn 1 cm, bụng lớn bằng sợi bún, có viền đen quanh thân màu vàng nâu.

Mùa bắt mối diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 Âm lịch nhưng bắt mối nhiều nhất là vào tháng 4, khi những cơn mưa giông đầu mùa đổ về. Hằng năm, khi cơn mưa đầu hạ vừa trút xuống, mối từ những ụ đất bay ra, mối đực tìm mối cái giao phối sau đó chui vào tổ sinh nở. Đây là thời điểm thích hợp để bắt mối đất.

Bắt mối vào mùa mưa.

Khi phát hiện có mối, người ta lập tức tắt bớt điện trong nhà, chỉ để lại một bóng đèn để mối tập trung vào một chỗ, sau đó đặt thau nước ở dưới ánh đèn. Mối thấy ánh sáng cùng nhau bay đến, sà xuống gặp nước, ướt cánh không bay lên được nên phải nằm lại trong thau. Thỉnh thoảng, người ta lấy tay khuấy nước trong thau. Nếu thấy trong thau nhiều mối thì lấy ra bỏ vào bao nilon.

Một số bà con ở miền núi dù có bận đến mấy thì cũng tranh thủ bắt vài bát mối, thành thử có câu ca: “Con ơi bắt mối đem rang / Nhanh tay không kẻo, mối sang nhà người”.

Công đoạn bắt mối chỉ diễn ta khoảng nửa tiếng là kết thúc. Lúc này mối đã ít dần, chúng bị rụng cánh và rơi dần ở chung quanh khu vực. Sau khi kết thúc bắt mối, người ta dùng nước sạch rửa nhẹ nhàng mối nhiều lần cho sạch và vớt ra một cái rá nhựa để cho ráo nước…

Chắc hẳn nhiều người sẽ bất ngờ khi biết, mối có thể chế biến thành nhiều món khác nhau như: mối hấp, mối nấu với lá bép, cà đắng, thậm chí bà con còn giã nhuyễn để nấu với bí ngô và bí đao.

Mối đất chiên giòn là món ăn ngon miệng, hấp dẫn đối với đồng bào Cờtu. Người ta bắc chảo, phi dầu cùng hành tỏi thơm phức rồi trút mối vào. Vài phút sau, nêm một ít nước mắm, tiêu bột, chút đường, tạo thành một mùi thơm nức mũi. Nếu muốn cầu kỳ hơn chút xíu, thì pha một tô bột, nhúng từng con mối rồi thả vào chảo dầu đang sôi, chờ bột vàng rụm là vớt ra.

Mối chiên giòn là món ăn được nhiều người ưa chuộng.

Ăn mối đất chiên giòn mà có các loại rau húng, quế, ngò tàu hay bánh tráng để xúc thì sẽ rất hợp. Mối đất chiên giòn nhai kỹ có vị ngọt bùi, béo đậm đà vì chúng có nhiều chất đạm, ăn mãi không chán. Không gì thú vị bằng khi được thưởng thức hương vị thơm lừng, beo béo và ngọt bùi của món mối rang, có thêm vài ly rượu đế, rôm rả trò chuyện cùng với người dân tộc mến khách.

Một cách khác để chế biến mối thành món ăn hấp dẫn là nấu cháo. Mối cánh sau khi làm sạch thì đảo với dầu ăn và gia vị cho thơm. Gạo đem nấu chín nhừ thành cháo, sau đó cho mối đã rang vào, nêm gia vị rồi nhấc xuống. Múc cháo ra bát cho khói tỏa nghi ngút, lan tỏa mùi thơm kích thích vị giác.

Cháo mối nhìn khá lạ mắt, hấp dẫn.

Thực khách có thể thêm rau thơm như ngò tàu, nêm nếm vừa ăn. Bát cháo mối với màu nâu của mối, màu trắng của cháo, ăn có mùi thơm đặc trưng, bổ dưỡng. Thưởng thức cháo mối với vị ngọt bùi, thơm béo hòa lẫn với nhau giữa ngày mưa rét thì chẳng có cái thú nào bằng. Du khách qua đây trong mùa mối cánh, nếu đã một lần thưởng thức hương vị thơm ngon của món cháo mối ở Trường Sơn thì không thể nào quên được.

Dù chưa có tài liệu khoa học nào xác định giá trị dinh dưỡng của loài mối cánh này nhưng đồng bào Cơ-tu từ xa xưa đã xem đây là một nguồn thức ăn giá trị, giàu chất đạm, được nhiều người ưa thích.

Advertisements

About dontruongbt

Phong Kiến Đại Sư
Bài này đã được đăng trong Ẩm Thực. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s