Đời Sống

Bèo tây, trứng ung thành… đặc sản Hà Thành

Nửa triệu một cân bong bóng cá

Trong số đó, ít ai ngờ bong bóng cá – một thành phần khi mổ cá người ta vẫn bỏ đi, hoặc gom về nấu cho lợn – giờ lại được dân sành ăn ở Hà Nội mua về chế biến thành những món khoái khẩu như bong bóng cá xào dưa chua, xào ớt,… Để có được 1kg bong bóng cá, nhiều người phải bỏ ra gần nửa triệu đồng và phải đặt hàng trước, mua gom mua vét khắp chợ mới có đủ.

Người dân săn lùng mua các loại bong bóng cá

Người dân săn lùng mua các loại bong bóng cá

Bà Nguyễn Thị Hiên, một mối chuyên bán cá tại chợ Nghĩa Tân (Cầu Giấy, Hà Nội) thừa nhận, đúng là bong bóng cá giờ được dân sành ăn ở Hà Nội săn mua từng chiếc một.

“Mỗi con cá chỉ có một chiếc bong bóng. Khách mua cá to thì lúc mổ thường yêu cầu giữ lại bong bóng cá, khách mua lẻ từng khúc một thì mới thừa ra. Tuy nhiên, mỗi ngày tôi chỉ bán được khoảng chục con cá to cắt khúc nên có tầm khoảng chục cái bóng cá dư ra, còn lại toàn bong bóng cá bé. Gom lại hết chắc cũng được 1-2 lạng là nhiều”, bà Hiên cho hay.

Món bong bóng cá được cho là món khoái khẩu của người Hà Nội mặc dù giá lên đến gần nửa triệu đồng/kg

Món bong bóng cá được cho là món khoái khẩu của người Hà Nội mặc dù giá lên đến gần nửa triệu đồng/kg

Theo bà Hiên, do là hàng hiếm, nhu cầu mua ăn lại nhiều nên món bong bóng cá tại chợ này đều được dân buôn gom lại, bán cho những mối quen đã đặt từ trước. Giá bóng cá từ 40.000-50.000 đồng/lạng, tùy bong bóng cá to hay nhỏ.

Bà Hiên cũng tiết lộ, nhiều mối quen khi thấy những bộ lòng cá trắm cũng đặt mua với mức giá 10.000 đồng/bộ để về xào ăn lẫn với bóng cá.

“Săn” trứng ung về… tầm bổ!

Theo khảo sát của PV, loại trứng ung hiện được rao bán trên các trang mạng xã hội khá nhiều, với những công dụng như: Ăn trứng ung cực nhiều chất dinh dưỡng, chữa bệnh đau đầu, rối loạn tiền đình, bồi bổ cho người già và trẻ em, chưa kể công dụng thần kỳ trong trong chuyện chăn gối,… Trong khi đó, mức giá bán lại rất rẻ, chỉ từ 15.000 – 20.000 đồng/chục.

Chị Hồng Nhung (Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội), một người bán trứng gà ung trên mạng, tiết lộ, trung bình mỗi ngày, chị bán được 400-500 quả trứng. Một tuần nay, số lượng trứng ung bán ra tăng lên gấp đôi, thậm chí nhiều lúc chị còn cháy hàng.

Bong bóng cá, bèo tây, trứng ung, sâu măng, rau dại, đuông dừa, thức ăn gia súc, đặc sản, dân Hà thành, Hà Nội, dân sành ăn
Trứng ung thành món ăn yêu thích của nhiều người.

Chị Nhung bật mí, trứng gà ung được lấy từ lò ấp tại các trang trại trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận. Những quả trứng gà ấp sau 7 ngày không hình thành phôi, không thể nở thành con bị loại ra. Chị nhập về bán, tùy nhu cầu của khách mà luộc sẵn hoặc để nguyên.

Các đầu mối lấy số lượng buôn từ 800-1.000 đồng/quả rồi về bán buôn/bán lẻ lại ăn chênh lệch. Trứng đặc lòng, gần giống trứng gà ta, hai lòng vẫn rõ, thường sẽ có giá nhỉnh hơn, bảo quản trong vòng một tuần. Nhưng cũng có những người chỉ thích ăn trứng loãng lòng, đã có mùi ung vì vị lạ miệng của nó. Riêng loại này chỉ để được 1-2 ngày.

Trao đổi với PV, anh Trần Duy Tiến, chủ một trang trại gà ở Thường Tín (Hà Nội) cho biết, trứng gà ung là loại trứng gà đã bị hỏng trong quá trình ấp nở (trứng phế phẩm).

Khi ấp trứng trong lò được 1 tuần thì sẽ tiến hành soi, nếu có phôi thì giữ lại, còn không thì loại bỏ.

GS. TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học và thực phẩm (ĐH Bách khoa Hà Nội) cho hay, trứng ung có hai trường hợp: trứng không có phôi, khi ấp nở sẽ bị ung; trứng có phôi nhưng trong quá trình ấp nở bị nhiễm khuẩn.

Cả hai trường hợp này trứng đều bị nhiễm khuẩn dẫn đến ung hỏng và sinh ra độc tố, sinh ra khí H2S không có lợi cho cơ thể.

Sâu tre nửa triệu/kg “cháy hàng”

Anh Lê Văn Thọ ở Hoàng Hoa Thám (Ba Đình, Hà Nội), một mối chuyên buôn bán các loại đặc sản vùng Tây Bắc, cho biết sâu tre gần giống với sâu chít. Song, sâu chít dân thường để ngâm rượu còn sâu tre mọi người thường mua về chế biến.

Sâu tre khá phổ biến ở vùng núi Sơn La hoặc khu vực Mường Lát (Thanh Hóa)

Sâu tre khá phổ biến ở vùng núi Sơn La hoặc khu vực Mường Lát (Thanh Hóa)

Theo anh Thọ, mùa sâu tre bắt đầu từ tháng 9, đến cuối tháng 10 là hết. Đây là thời điểm sâu tre sinh sôi nảy nở, sâu nhiều và béo nhất. Người dân ở những vùng núi như Sơn La, Mường Lát (Thanh Hoá) thường vào các khu rừng, tìm những cây tre, nứa có biểu hiện héo ngọn, đốt tre bị co rúm, ngắn lại khác thường thì chặt những đốt ấy ra, kiểu gì cũng thấy những con sâu tre màu trắng lúc nhúc bên trong.

Sâu tre có giá bán nửa triệu đồng/kg nhưng không phải lúc nào cũng có hàng

Sâu tre có giá bán nửa triệu đồng/kg nhưng không phải lúc nào cũng có hàng

Sâu này khá hiếm, không phải cây tre nào cũng có. Song, nếu tìm trúng đốt tre có sâu thì mỗi đốt có thể chứa đến nửa ký sâu.

Trước đây, sâu tre được bà con mang về làm thức ăn cho gia đình. Nhưng giờ nhu cầu mua sâu tre của người dân thành thị tăng lên, sâu tre được bán cho các nhà hàng, quán ăn làm món đặc sản khá nhiều.

Là món ăn đặc sản, chỉ khai thác được ngoài tự nhiên theo mùa nên sâu tre ở Hà Nội có giá tới nửa triệu đồng/kg, nhưng lượng hàng anh Thọ gom từ các mối quen vẫn không đủ để bán. Khách muốn mua phải đặt trước một tuần.

Đặc biệt, loại sâu này là hàng tươi sống, rất khó vận chuyển, không cẩn thận sâu sẽ chết nên khi có hàng, anh thường sang tay luôn cho khách đã đặt, đảm bảo sâu tới tay khách tươi ngon lại tránh bị hao hụt.

Theo các chuyên gia trong ngành, các loại côn trùng, sâu bọ, trong đó có sâu măng khi đã chết thường sinh ra độc tố hoặc trên cơ thể côn trùng có thể bị nhiễm nấm độc, có protein lạ… rất dễ gây dị ứng, ngộ độc cho con người khi ăn với những biểu hiện như mẩn ngứa, chóng mặt, buồn nôn… Vì vậy, cần cẩn trọng hơn khi ăn, tránh ăn những loại côn trùng lạ, màu sắc sặc sỡ.

Bèo tây cũng trở thành đặc sản Hà Thành!

Đối với người dân miền Bắc, xưa nay bèo tây chỉ là loài cây mọc dại, được dùng làm thức ăn cho động vật như lợn, gà, vịt hay để lọc sạch nước. Nhưng ngày nay các bà nội trợ lại săn tìm chúng như một loại rau sạch.

Bèo tây trước kia được dùng làm thức ăn cho lợn, gà, ngan vịt thì nay được dân Hà thành tìm kiếm về ăn như một loại rau sạch đặc sản.

Những cây bèo tây được các bà nội trợ chế biến thành rất nhiều món: cọng non để ăn sống, nhúng lẩu, xào tỏi như rau muống; ngó để làm nộm, gỏi, dưa chua, xào thịt; hoa cũng có thể dùng để luộc, nấu canh… Tại nhiều nhà hàng, những món ăn từ bèo tây cũng đắt tiền không kém nhiều loại rau khác.

Béo tây vốn là loại cây khá phổ biến ở nông thôn tuy nhiên ít khi được sử dụng trong bữa ăn gia đình

Bèo tây vốn là loại cây khá phổ biến ở nông thôn tuy nhiên ít khi được sử dụng trong bữa ăn gia đình

Chị Minh Hà (Ba Đình – Hà Nội), cứ cuối tuần về quê chị lại mang lên một bịch rau bèo tây non để cất tủ lạnh ăn dần. Theo lời chị Hà, bèo tây có vị ngọt thơm, cảm giác mát mát, dai giòn sần sật mà lại không sợ độc hại. Bởi loại rau này được sống trong những ao hồ sạch sẽ. Chưa kể, việc sơ chế chúng rất đơn giản.

Mỗi lần lấy bèo tây về ăn, chị chỉ cần cắt khúc ngắn tầm 10cm rồi ngâm qua nước muối pha loãng. Sau đó bóp cho ráo nước là có thể đem nấu canh chua, làm nộm hay xào với thịt lợn, thịt bò, tôm.

Thời gian gần đây, nhiều bà nội trợ ở Hà Nội thường tìm mua bèo tây về nấu canh chua hoặc xào với thịt lợn, bò...

Thời gian gần đây, nhiều bà nội trợ ở Hà Nội thường tìm mua bèo tây về nấu canh chua hoặc xào với thịt lợn, bò…

Theo Ths.BS Đặng Huyền Nga (Bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội) cho biết: “Theo y học cổ truyền, bèo tây có tên gọi là lục bình, có vị nhạt, tính mát, có tác dụng chữa sưng tấy, viêm đau như sưng bắp chuối bẹn, tiêm bị áp xe, chín mé, sưng nách, viêm tinh hoàn, viêm khớp ngón tay, viêm hạch bạch huyết,…

PGS. TS Nguyễn Duy Thịnh (Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm, Đại học Bách Khoa Hà Nội), cho biết, khi hái bèo tây để chế biến các món ăn thì tránh hái ở những vùng nguồn nước bị ô nhiễm. Bởi, cây bèo sẽ hút kim loại nặng cộng với những chất khác ở trong nước và tích tụ vào thân. Người ăn loại bèo đó nhiều cũng tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh do kim loại nặng có chứa trong bèo được chuyển hóa vào người.

Bong bóng cá, bèo tây, trứng ung, sâu măng, rau dại, đuông dừa, thức ăn gia súc, đặc sản, dân Hà thành, Hà Nội, dân sành ăn.
Bèo tây được ngâm nước mối pha loãng rồi bóp sạch để ráo nước

Do vậy, ông khuyến cáo chỉ nên ăn bèo sống ở những kênh rạch có nguồn nước sạch, hái những đọt bèo non và ửa sạch, sơ chế cẩn thận trước khi chế biến để tránh bị ngứa.

Với những loại côn trùng, sâu bọ, trong đó có sâu măng, các chuyên gia trong ngành cho hay, khi đã chết, chúng thường sinh ra độc tố hoặc trên cơ thể côn trùng có thể bị nhiễm nấm độc, có protein lạ,… rất dễ gây dị ứng, ngộ độc cho con người khi ăn với những biểu hiện như mẩn ngứa, chóng mặt, buồn nôn…

Vì thế, tránh ăn những loại côn trùng lạ, màu sắc sặc sỡ. Trước khi chế biến, cần ngâm các loại côn trùng vào nước muối pha loãng hoặc vào nước vôi trong để chúng thải hết độc từ ruột ra ngoài, ngăn ngừa nguy cơ bị ngộ độc.

Mặc dù lòng cá là món ăn vô cùng bổ dưỡng, chứa nhiều chất béo giúp phát triển trí não, nhưng các chuyên gia dinh dưỡng cũng lưu ý, cần chọn bóng cá có màu trắng đục hay vàng nhẹ, khô ráo, có độ cứng giòn đặc trưng. Tránh mua loại có màu vàng sậm, ẩm ướt, có mốc hoặc có mùi tanh nồng. Không nên mua nhiều để dự trữ vì bóng cá rất dễ chuyển màu và mốc. Khi chế biến, rửa sạch, ngâm bóng cá trong nước gừng có pha ít rượu trắng để loại bỏ mùi tanh.

Đối với những loại rau rừng, nếu bà nội trợ không biết cách chế biến thì cũng có nhiều rủi ro tiềm ẩn.

Thạc sĩ Lương Văn Dũng, Phó trưởng khoa Sinh học, Trường ĐH Đà Lạt, khuyến cáo, rau rừng vẫn chưa đi vào kinh doanh thương mại thực sự nên chưa có những cơ chế quản lý chặt chẽ. Do là loài cây dại trong tự nhiên, nhiều loại rau rừng ăn được trông rất giống với những loại rau hoang dại có độc tố, lại mọc gần nhau nên rất dễ nhầm lẫn.

Xơ mít xào chay ăn rất đưa cơm

Báo Gia đình & Xã hội lại giới thiệu món ngon đến từ xơ mít. Nhiều người ở thành phố thường không biết đến một món ăn rất ngon từ thứ bỏ đi của quả mít: Xơ mít có thể dùng muối chua như muối dưa, làm gỏi mít, hoặc nấu canh…

Món xơ mít xào chay ăn rất đưa cơm. Ảnh: VnExpress.net

Xơ mít sau khi muối 2 – 3 ngày, có thể ăn sống như dưa, có thể mang ra vắt khô nước rồi xào lên ăn rất đưa cơm.

Với món xơ mít xào, chỉ cần phi hành thơm, cho xơ mít đã vắt khô nước, nêm mắm muối vào là có thể ăn được.

Canh xơ mít cũng là một món ngon không kém. Đặc trưng của món canh này là không cần đến một chút bột ngọt nào mà nước canh vẫn ngọt đậm đà. Canh thường được nấu với cá hoặc thịt nạc cùng một chút hành, vài lát ớt và rau om (rau ngổ) chan vào với cơm gạo tám.

Nếu nấu canh chay thì bạn không nấu cùng thịt cá mà chỉ nấu riêng xơ mít, nấm kim châm và cà chua cùng chút hành và rau mùi đều rất ngon.

—————0—————-0—————–

Rau dại “cứu đói” biến thành đặc sản

Các loại rau dại, hay còn gọi là rau “cứu đói” vào những ngày giáp hạt nay bỗng trở thành đặc sản, được dân Hà thành săn mua thay thế các loại rau thường dùng.

Bỏ trăm nghìn mua bữa rau “cứu đói”

Chị Nguyễn Thị Thùy Linh ở Trương Định (Hoàng Mai, Hà Nội) mới đây hớn hở vì mua được 5 mớ rau tầm bóp non mỡ màng tại một hàng rau bán rong trên phố. Chị cho biết, thường ngày, loại rau này hiếm lắm, muốn ăn chị toàn phải đặt tiền mấy bà bán rau ở chợ từ hôm trước.

Chị Linh giải thích, tầm bóp là loại rau dại, mọc ở những khu đất bỏ hoang, bờ ruộng, không phải dân trồng nên không lo ngại về vấn đề thuốc sâu, chất kích thích như mấy loại rau muống, cải, ngót… bán ngoài chợ.

Trước kia, gia đình chị không biết ăn loại rau này. Nhưng từ cuối năm ngoái, khi đến nhà bạn chơi dịp cuối tuần, được chiêu đãi món rau tầm bóp xào tỏi, ăn có vị hơi ngăm ngăm đắng song rất ngon. Sau đó cô bạn có giới thiệu loại rau này mọc dại, ở quê thì nhiều nhưng thành phố thì hiếm. Gia đình cô ấy giờ chủ yếu ăn các loại rau dại như dền cơm, sam, tầm bóp, rau tàu bay… thay cho các loại rau thông thường bán ngoài chợ.

Nhiều người dân thành phố bỏ cả trăm nghìn đồng để mua một bữa rau dại, hay còn gọi là rau cứu đói về ăn (ảnh B.H).

“Cũng từ đó, gia đình tôi đổi dần từ rau nông dân trồng sang các loại rau dại”, chị Thùy Linh chia sẻ.

Theo lời chị Thùy Linh, các loại rau dại nhìn chung dễ ăn, có thể chế biến thành đủ các món như: nấu canh, xào tỏi, ăn lẩu hay luộc đều được cả. Tuy nhiên, vì là các loại rau mọc dại nên hiếm, giá thường cao hơn rất nhiều các loại rau thường. Đơn cử, rau tầm bóp 5.000 đồng/mớ (một nhà 5 người ăn thì phải mua khoảng 5-6 mớ, còn nấu canh cũng phải mua tới 3 mớ), rau dền cơm giá 30.000-35.000 đồng/kg, còn rau sam khi nào may mắm mua được giá cũng phải 40.000 đồng/kg.

“Hôm trước nhà có khách, tôi phải bỏ ra hơn 100.000 đồng để ra chợ mua rau tầm bóp về làm lẩu, nếu mua các loại rau khác chắc chỉ hết khoảng 30.000 đồng. Nhưng ăn loại rau này ai cũng khen ngon, lạ miệng”, chị nói.

Tương tự, chị Lê Thị Thanh Huyền ở khu đô thị Xa La (Hà Đông, Hà Nội) – một người chuyên săn mua các loại rau dại, cho hay, hơn một năm nay, khi không thể phân biệt được đâu là rau sạch, đâu là rau bẩn thì gia đình chị tìm đến các loại rau dại nhiều hơn.

Các loại rau dại ở thành phố càng ngày càng hiếm, giá cũng đắt đỏ nhưng được cái an toàn, không lo bị phun xịt thuốc hay sử dụng phân bón như nhiều loại rau trồng nên các bà nội trợ đua nhau chọn mua. “Trước kia ít người biết ăn còn dễ mua chứ giờ thì khó hơn. Hôm nào gặp, người bán có bao nhiêu tôi thường mua hết bấy nhiêu. Không ăn hết để trong tủ lạnh ăn dần đỡ phải mua rau ngoài chợ. Hoặc thi thoảng có bạn bè về quê tôi cũng nhờ mua hộ”, chị Huyền cho hay.

Đặc sản mới của người thành phố

Thực tế hiện nay, không ít các bà nội trợ ở thành phố coi các loại rau dại như là những món đặc sản, phải cất công tìm kiếm để mua về ăn.

Dền cơm – một loại rau dại ăn rất mát chỉ có vào mùa hè

Bác Trần Thị Thoa ở ngõ 175 Xuân Thủy (Cầu Giấy) “mắt tròn, mắt dẹt” khi thấy cô con dâu xách một túi rau dại to đùng về khoe hôm nay nhờ người quen về quê nên gửi mua được toàn các loại rau đặc sản. “Rau này hiếm lắm, thi thoảng mới có hàng bán. Muốn có rau ăn đều đều hàng ngày con phải đặt tiền trước họ mới tìm hái cho” – cô con dâu tiết lộ.

“Tôi mở túi ra thấy toàn rau dại như: tầm bóp, rau sắng, rau sam. Những loại rau này, vào những năm 80, khi mùa giáp hạt đến người dân đói không còn gì để ăn phải đi hái rau dại về ăn thay cơm nên mọi người gọi chúng là rau ‘cứu đói’. Ấy vậy mà giờ đây, nó lại trở thành thứ rau đặc sản”, bác Thoa chia sẻ.

Thừa nhận chuyện này, chị Hoa tiểu thương bán rau tại chợ Nghĩa Tân (Cầu Giấy), nói rằng các loại rau dại giờ hút khách mua hơn rau thường. “Mặc dù giá bán đắt gấp đôi, gấp ba nhưng hôm nào tôi tìm hái được một ít đem ra chợ bán cũng hết veo. Có hôm chỉ đủ bán cho một vài khách quen đặt tiền trước”.

Dân giờ sành ăn chọn mua các loại rau dại nhiều, nhất là vào mùa hè bởi các loại rau dại thường có tính mát, tốt cho sức khỏe lại dễ chế biến thành các món ăn.

“Nhiều hôm hàng hiếm, kiếm được mỗi loại mấy lạng tôi trộn lẫn nhau. Giá rau hôm đó đắt ngang thịt, cũng phải tầm khoảng 7.000-8.000 đồng/lạng. Một nhà 4 người ăn phải mua tầm 3 lạng mới đủ nấu canh, vậy mà mọi người vẫn tranh nhau mua”, cô Thơm – một người bán rau tại chợ Đại Từ (Hoàng Mai) – cho biết.

Trao đổi với PV về hàm lượng chất dinh dưỡng có trong các loại rau dại, một chuyên gia thực phẩm cho hay, người dân chọn mua rau dại về ăn là bình thường bởi rau dại thường tự mọc, tự lớn nên an toàn hơn. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo, khi sơ chế nên rửa, ngâm nước thật sạch bởi nhiều loại rau dại lá, thân có nhiều lông tơ bụi bám rất nhiều.

Đặc biệt, người tiêu dùng chỉ nên chọn mua những loại rau dại quen thuộc, không nên mua những loại rau dại lạ, ít gặp vì nhiều loại rau dại có độc cũng rất giống với các loại rau dại thông dụng. Nếu không nhận biết được rất dễ ăn nhầm, có thể gây hại đến sức khỏe.

———–0———–0————

Món khoái khẩu được làm từ… đồ ăn thừa cho lợn

Món ăn lạ lùng và không thể thiếu sau mỗi dịp Tết ấy được người Mường gọi là “nước giút”.

Đặc sản từ “cơm thừa canh cặn”

Ngày tết, vợ chồng anh Quách Văn Giám (xã Xuân Phúc, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa) bàn nhau hạ cái chân giò, pha cái thủ lợn, chặn nốt nửa con gà trong tủ lạnh ra để đãi khách.

Khách thì chỉ có ba người nhưng thức ăn thì làm rất nhiều. Trước sự hiếu khách của vợ chồng anh Giám, khách cũng không lấy làm câu nệ.

Những thức ăn còn lại trên mâm cùng với xương không thể ăn, vợ anh Giám cho vào một cái bát to. Lúc này anh Giám mới cất tiếng: “Chú là người Kinh. Chú không biết người Mường bọn anh có một món đặc sản, đấy là nước giút.

Những thứ anh chị vừa để riêng ra bát mà chú thấy chính là nguyên liệu cho món nước giút. Người ta hay trêu rằng đó là thứ ăn thừa trên mâm, đúng là thừa, nhưng rất sạch sẽ và an toàn”.

Anh Giám cho biết, bản thân anh cũng như tất cả người dân xứ Mường vẫn chưa có ai cắt nghĩa được tại sao người ta gọi món ăn lạ lùng và có phần kinh dị đó là nước giút.

Nhưng, đó thứ nước mà nhiều người hãy còn cảm thấy nước miếng đang dâng lên mỗi khi nghĩ đến cái vị ngọt, vị chua, cay, mặn của nó.

Không chỉ có gia đình anh Giám, với người Mường, món nước giút đã là một đặc sản và để làm được món này thì quả là một nghệ thuật.

Kinh dị món khoái khẩu được làm từ… đồ ăn thừa cho lợn - Ảnh 1.

Bà Thu và món đặc sản được làm từ thức ăn thừa.

Món ăn khiến nhiều người… hoảng hồn

Ở xứ Mường Xuân Phúc, người làm món giút có tiếng phải kể đến nhà ông Lê Văn Hội, nhà bà Trương Thị Thu.

Bà Thu tự tin vào đôi tay khéo léo của mình, bà bảo: “Để làm nước giút, người ta lấy tất tần tật những cái gì còn thừa thãi trong mâm cơm tức thứ mà người ta không ăn nữa như các loại xương, gồm xương lợn, gà, cá, các loại rau, miến, mì tôm, nước canh… cho vào chum.

Sau đó đổ nước luộc bánh chưng vào, cũng có thể bỏ thêm một cái bánh chưng, hoặc nước vo gạo nếp vào cho nhanh chua.

Và quan trọng nữa là người ta lên rừng chặt cây chuối, chỉ chuối rừng mới ngon mà phải là chuối bánh tẻ, về thái mỏng, bỏ vào nồi luộc sơ qua rồi đưa vào chum. Cùng với đó là muối trắng mà phải là muối hạt to mới làm được.

Cuối cùng, bỏ mấy lá đinh lăng lên trên rồi buộc kín, đậy nắp lại. Để món này được ngon thì tốt nhất là phải có chum gốm non, nếu không nước sẽ không được thơm, ngon.

Cũng lưu ý rằng, khoảng 11g giờ hàng đêm, nên mang chum ra mở nắp cho sương bay vào đến khoảng 4 giờ sáng lại đậy nắp lại.

Để khoảng 2-3 tháng sau khi xương và các thứ bên trong mềm, ngấu, chua là ăn được, loại này ăn thay mẻ và đặc biệt là không bao giờ xảy ra hiện tượng đau bụng”.

Để minh chứng cho thứ đặc sản của dân tộc mình, bà Thu dẫn chúng tôi xuống bếp. Trong góc bếp là xô to màu trắng, được đậy nắp rất cẩn thận.

Bà bảo, đây chính là xô nước giút. Vì cái chum mới vỡ nên phải để tạm ở xô, hết Tết là phải thay ngay bằng chum kẻo mất ngon.

“Loại này là phải có chum y như mắm tép, nước tương vậy”, nói rồi bà cho người khiêng xô nước ra sân cho khách được nhìn rõ hơn.

Bà Thu mở nắp, con cháu vây quanh. Có thể nói vì mới làm nên trông xô nước chưa được ngon cho lắm trong mắt người lạ.

Một số người thành phố trông thấy cũng lại xem. Có người tò mò, có người thấy khó ngửi mùi nên lui về phía sau. Dù đã được giới thiệu, đã mường tượng ra trước nhưng vẫn có nhiều người không tin rằng món này là món ăn truyền thống.

Ngược lại, với những người Mường, họ chủ động cầm muôi và khoắng lên, đưa lên miệng nếm, chép chép miệng rồi tấm tắc khen ngợi cho cái món ăn độc đáo của mình sắp thành công.

Của để dành khi giáp hạt

Ngắm nghía mãi món giút, một cao niên bảo: “Ngày tết ăn thịt vào nhiều ngấy lắm rồi, trong khi đó tháng ba ngày tám lại không có gì ăn.

Không biết nơi khác như thế nào chứ vùng này xưa kia ngoài cấy lúa còn dựa vào rừng làm nương, ngày nay rừng không cho khai thác, ngoài làm ruộng không biết làm gì nên ra giêng đói kém lắm.

Những nhà không có điều kiện thì ngoài gạo ra chuyện thức ăn cũng là một vấn đề. Nếu có nước giút lại chẳng lo mấy. Có nước giút thì một bát đặt giữa mâm với một nồi cơm cũng có thể xong bữa.

Kinh dị món khoái khẩu được làm từ… đồ ăn thừa cho lợn - Ảnh 2.

Nhiều người hoảng hồn khi tận thấy món đặc sản kinh dị.

Cũng theo cao niên này thì từ thời người Mường còn quan lang, người dân phải làm thịt trâu bò, tất cả những gì ăn được đều phải dâng hiến cho quan hết. Những thứ xương xẩu lặt vặt không ăn được quan không lấy.

Bỏ công bỏ sức mà không được ăn, đói, có người rớt nước mắt, xót xa, cúi nhặt những gì còn xót lại mang về luộc lên nhưng không nỡ ăn mà phải để dành, nhưng để bảo quản tốt người ta cho vào chum vừa kín lại vừa sạch.

Nhiều lần như vậy thành ra số xương xẩu đó lên men và mềm ra. Người ta lấy ra ăn thử thấy ngon nên truyền tai nhau mà làm.

Trải qua thời gian, người ta thêm những thứ khác vào và trở thành món ăn lưu truyền trong người Mường. Ngày nay người ta chỉ làm vào dịp tết là bởi tết nhiều thức ăn dư thừa.

Không chỉ xứ Mường Xuân Phúc mới có món giút. Những nơi có người Mường như Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An cũng có món này, nhưng được gọi dưới những cái tên khác nhau.

Từ món giút, tôi lại nhớ đến món ăn dấm trạo của người Tày vùng Yên Bái. Với món trạo, người ta bỏ cả thịt lẫn xương cùng gạo nấu lên y như một nồi cháo loãng. Sau đó cất đi, khoảng nửa năm sau thì lấy ra ăn.

Những thứ hỗn tạp đó tạo thành một thứ nước chua thanh mát. Dùng nấu ăn vào mùa hè thay cho mẻ.

Tránh xa người nặng vía

Trở lại món nước giút của người Mường, bà Thu kể: “Ngày nay, ít đói hơn nên việc làm nước giút cũng được chú trọng hơn. Nguyên liệu làm nước giút là những thứ sạch sẽ”.

Cũng theo bà Thu thì không phải ai cũng làm được món đặc sản này. Như muối cà muối dưa hay làm tương vậy, người nặng vía làm sẽ bị hôi, thối hoặc sẽ có giòi bò lúc nhúc trong chum.

Với bà Thu, bà là được người đã khuất truyền lại cho nhiều bài thuốc thổi và nhiều lời chú cũng như bí quyết làm giút.

Khi làm giút, bà luôn áp dụng công thức đó cùng với việc đọc lời chú mang đại ý là cho món giút luôn ngon chứ không bị vía. Dù có nâng đi nâng lại, mở ra đậy vào nhiều lần cũng không bị hỏng.

Kinh dị món khoái khẩu được làm từ… đồ ăn thừa cho lợn - Ảnh 3.

Xô chứa món đặc sản nhà bà Thu.

Bà Thu bảo, gần 70 tuổi, bà có thâm niên làm nước giút cũng trên dưới 60 năm nhưng chưa một lần hỏng.

Tháng Ba hàng năm, ấy là khi chum giút chín ngấu. Và, theo như lời bà Thu thì khi ấy nhiều người ở quanh xóm tìm đến nhà bà để xin những bát nước giút truyền thống.

“Mình làm ngon thì họ mới xin chứ. Giống như người dưới xuôi xin nhau bát cà, bát dưa thôi mà”, bà Thu xuề xòa chia sẻ.

—————-0———-0————

Côn Trùng

Bọ cạp chiên giòn

Vẻ bề ngoài kinh dị không hề làm ảnh hưởng tới sức hấp dẫn của các món ăn được làm từ bọ cạp, đặc biệt là các món nhậu lai rai được mấy “tay bợm” cực kì ưa chuộng như bọ cạp chiên giòn, bọ cạp rang muối….

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 1

Bọ cạp sống

Bọ cạp sau khi bắt về được cho vào chậu một vài ngày để “sạch bụng”, làm sạch nguyên con rồi cho vào chảo mỡ đun sôi để chiên. Ít phút sau, mùi bọ cạp chín giòn tỏa ra thơm lừng đến nức ruột. Bọ cạp chiên thường được dùng kèm cà chua, dưa leo, rau thơm, và vài cọng ngò, chấm thêm tẹo muối tiêu chanh hoặc nước tương tùy nơi.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 2

Bọ cạp chiên giòn (chưa lên đĩa)

Cắn một miếng, bạn sẽ cảm nhận được mùi vị béo bùi của thịt bọ cạp đang nổ giòn lép bép khi nhai. Theo nhiều thực khách, bụng bọ cạp là phần ngon nhất, vì trong bao tử của chúng có hương vị rất đặc trưng của những loại cỏ cây hoang dại vẫn còn đọng lại. Không những thế, theo như người Khmer thì vừa ăn bọ cạp chiên vừa uống ngụm rượu bọ cạp còn có tác dụng chữa các bệnh nhức mỏi, chứng đau lưng, nâng cao khả năng sinh lý của nam giới, khiến “ông tăng sức mà bà thì sung”.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 3

Bọ cạp chiên giòn

 

Ve sầu rang lá chanh

Ve sầu hay được dùng để chế biến món ăn ngon thường là loại ve còn non, mới chui khỏi lòng đất. Để bắt được loại ve này, người thợ phải kỳ công lặn lội đi bắt từ khi trời vừa chập tối, cầm đèn pin để soi vào từng gốc cây cách đất chỉ khoảng vài chục xentimet.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 4

Nhộng ve sầu

Ve non (nhộng ve) mới bắt về phải chế biến ngay, nếu không nhộng sẽ lột xác thành ve. Cách làm thông dụng nhất và cũng được nhiều người ưa thích nhất là đem nhộng ve làm sạch, để ráo nước rồi chiên giòn, hoặc rang với lá chanh là có ngay một món ăn đầy hấp dẫn.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 5

Nhộng ve sầu lên đĩa

Món ve sầu có giá trị dinh dưỡng rất cao, vừa giúp chống lão hóa sớm, chống ung thư, vừa có tác dụng tăng thêm sinh lực cho cơ thể. Thân ve sầu trong mềm ngoài giòn tan, ăn vào ngậy béo và thơm ngon vô cùng.

 

Chả rươi

Chả rươi là một món ăn khá ngon và hot ở Việt Nam. Nhưng lý do nó được liệt vào danh sách những món ăn kinh dị nhất thế giới cũng bởi cái hình dạng nửa giun, nửa rết ghê người của con rươi. Nhiều người nhìn thấy đã phát sợ, chưa nói gì tới việc đánh nát nhoét chúng lên để làm chả ăn.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 6

Rươi sống

Nhưng cũng phải công nhận một điều rằng, nếu không nhìn thấy nguyên liệu mà “khuất mắt trông coi” thì ăn món này rất ngon! Rươi chỉ có vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10 âm. Rươi trộn thịt nạc bằm, vỏ quýt, trứng gà, hành hoa để làm chả từ lâu đã trở thành một món đặc sản nổi tiếng của người Hà Nội.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 7

Chả rươi

 

Châu chấu rang lá chanh

Châu chấu có quanh năm nhưng nhiều nhất là vào đợt gặt, thường vào lúc tháng 4 và tháng 9 âm lịch. Trong mắt người nước ngoài (và kha khá người Việt Nam) thì đây là một trong số những món ăn kinh dị nhất thế giới, có lẽ cũng bởi ít nơi có văn hóa ăn côn trùng. Nhưng ở Việt Nam, châu chấu là một thứ đặc sản dân dã thơm ngậy, khá quen thuộc với nhiều người.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 8

Lũ phá hại mập ú

Châu chấu ăn được cũng có nhiều loại như châu chấu tre, châu chấu lúa, nhưng thơm ngon bổ béo nhất vẫn là châu chấu sim, cẳng to và nhiều thịt. Cách chế biến món ăn này tương đối đơn giản, chỉ cần rang với lá chanh là đã có ngay một đĩa đặc sản ngon tuyệt cú mèo!

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 9

Châu chấu lên đĩa

 

Cháo nhộng ong

Để có nguyên liệu làm ra cái món ăn này, những người săn ong phải cực kỳ cẩn thận để thoát khỏi nguy cơ bị ong đốt vô cùng đáng sợ. Bởi vì, ong vò vẽ là loài ong có nọc cực kì độc, chúng thường làm tổ nhiều tầng ở trên những cành cây khô. Sau khi đã lấy được tổ ong, người thợ phải tách từng tầng một cách tỉ mỉ để moi lấy nhộng ong ra, tránh làm nhộng bị vỡ nát toét, khi ăn không được ngon. Sau đó, nhộng ong được chần nước sôi chừng ít phút để phần sữa trong thân nhộng săn lại, rồi tiếp tục phần ruột đen nằm ở phía thân dưới được vứt bỏ.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 10

Tổ nhộng ong

Sau quá trình sơ chế, ong được làm sạch, xào qua với hành, tỏi. Cháo nấu bằng lúa mùa, có thêm chút nước giảo dừa khô dậy mùi thơm cực hấp dẫn. Khi cháo chín nhừ thì nêm gia vị cho vừa rồi trút nhộng vào, thêm nước cốt dừa, tiêu và hành lá băm nhuyễn. Cháo nhộng ong ăn rất thanh mát, có vị ngậy béo, ngon đến độ không một ai có thể cưỡng nổi sức hấp dẫn của nó. Ngoài ra, loại cháo này còn có tác dụng giải rượu cực kỳ hiệu quả.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 11

Nhộng ong được moi

 

Bọ xít rang lá chanh

Trong trí nhớ của mọi người thì bọ xít là một loài động vật hôi hám, đáng ghét, kể cả người người từng ăn côn trùng cũng khó có thể hình dung nổi cảnh phải tiêu hóa cái món này. Ấy vậy nhưng, người Mường lại có cái tài chế biến bọ xít để trở thành một món… đặc sản khiến nhiều người mê tít.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 12

Bọ xít

Bọ xít sau khi được mang về, bỏ cánh và chân đi, ngâm vào nước muối để chúng phun hết chất hôi ra khỏi cơ thể. Khi chiên thì cho thêm chút nước măng chua và để lửa to, đảo đều tay để bọ giòn và vàng đều. Điều đặc biệt là người thợ bếp chỉ cần cho thêm chút lá chanh thái nhỏ mà không cần thêm nếm bất cứ loại gia vị nào, bởi vì trong con bọ xít đã mang đủ những hương vị ngọt, cay, mặn đậm đà rất hấp dẫn.

Top những món ăn kinh dị nhất thế giới ở Hà Nội ảnh 13

Bọ xít rang lá chanh

—————-0—————0—————

Thú câu cá dìa xả “stress”

Người dân các vùng ven biển Bình Định, phần nhiều gắn với cuộc sống mưu sinh trên biển. Những thanh niên trai tráng, đàn ông có sức khỏe thường theo những con tàu đánh bắt xa bờ ra vùng biển Trường Sa, Hoàng Sa… để câu những con cá ngừ đại dương nặng hơn nửa tạ. Cũng không ít người lại hành nghề lưới rút gần bờ, sáng đi tối về hay tối đi sáng về. Số ít người chuyên đi câu mực, câu cá đêm ở trên biển.

Trong nghề câu cá, có lẽ câu cá dìa biển là đơn giản nhưng có khi lại cho thu nhập cũng khá. “Gặp hôm may mắn, tôi câu được cả 5-7 kg cá dìa, cá kình bán được cả triệu đồng”- anh Trương Hoài Duy, một tay câu cá có thâm niên ở cảng cá Đề Gi (huyện Phù Cát) chia sẻ.

Câu cá dìa không chỉ là vui xả stress của nhiều người, nhưng có khi kiếm tiền triệu mỗi ngày

Câu cá dìa không chỉ là vui xả stress của nhiều người, nhưng có khi kiếm tiền triệu mỗi ngày

Theo anh Duy, dụng cụ câu cá dìa, cá kình đơn giản gồm cần câu cá ngắn (cần máy hoặc tay) với chùm lưỡi câu từ 6-14 lưỡi, còn mồi là rong biển tự nhiên và cơm nguội.

“Khi nước biển trong xanh thì câu bằng rong biển vì đây là thức ăn khoái khẩu của cá dìa, còn khi nước đục thì dùng mồi cơm. Cách câu cũng đơn giản, rong biển được quấn chặt lấy chùm lưỡi câu, khi cá dìa ăn thì có cây đổi trên đầu cần nhịp, nhịp (giật). Nếu cây đổi nhịp nhẹ thì cá nhỏ, nhịp mạnh hơn thì cá lớn. Cá dìa miệng nhỏ nên chỉ rỉa rong, chứ không đớp mồi nuốt như các loại các khác nên khi giật chùm lưỡi câu sẽ móc vào thân cá”- anh Duy giải thích.

Cũng theo anh Duy, câu bằng cần máy thì khó hơn cần tay, nên phải có kinh nghiệm thì mới câu bằng cần máy. Đặc biệt, với cách câu bằng lưỡi chùm này thì mỗi lần giật có khi được 2-3 con, nhiều thì được 4-5 con cá. Trong khi đó, nếu câu cá bằng cách thông thường, mồi được gắn vào 1 lưỡi câu nên mỗi lần giật chỉ được 1 con.

Lưỡi câu chùm nên mỗi lần giật có thể 3-4 con cá mắc câu

Lưỡi câu chùm nên mỗi lần giật có thể 3-4 con cá mắc câu

“Tôi câu 2 cần một lúc, mỗi cần dùng chùm 12 lưỡi, bình quân 3-5 phút giật cần 1 lần. Mỗi ngày câu được khoảng 3-5 kg cá dìa với giá 100 kg, nếu cá to thì bán giá cao hơn 150 ngàn đồng/kg. Câu cá cũng có cái hên, gặp người “sát cá” thì câu được nhiều, có người câu cả buổi chẳng được con nào”- anh Duy cho hay.

Với cách câu cá dìa biển đơn giản nhưng lại cho thu nhập khá. Đặc biệt, câu cá dìa đơn giản nên nhiều người xem việc câu cá là thú vui để xả “stress” sau những ngày làm việc căng thẳng. Và hên xui nếu câu được cá sẽ cải thiện bữa ăn cho gia đình với bữa cá dìa tươi “roi rói” đảm bảo chất lượng.

1 lần giật có thể nhiều con cá bị mắc câu

1 lần giật có thể nhiều con cá bị mắc câu


Rong biển - thức ăn khoái khẩu của cá dìa

Rong biển – thức ăn khoái khẩu của cá dìa

Thấy câu cá dìa thú vị nhiều du khách cũng thử tài câu cá

Thấy câu cá dìa thú vị nhiều du khách cũng thử tài câu cá

Cá to hay cá nhỏ phụ thuộc vào cây đổi trên đầu cần nhịp mạnh hay nhẹ
Cá to hay cá nhỏ phụ thuộc vào cây đổi trên đầu cần nhịp mạnh hay nhẹ
Cá dìa có thể hấp, nướng, nấu canh chua... ăn rất tuyệt vời
Cá dìa có thể hấp, nướng, nấu canh chua… ăn rất tuyệt vời

Bình quân mỗi ngày anh Duy câu được 3-5kg cá dìa

Bình quân mỗi ngày anh Duy câu được 3-5kg cá dìa

—————0—————-0—————–

 

 

Advertisements

About dontruongbt

Phong Kiến Đại Sư
Bài này đã được đăng trong Ẩm Thực, Phóng Sự - Ký Sự. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s