Những câu chuyện cảm động

Chuyện cháu bé 8 tuổi làm chấn động dư luận Trung Quốc

Cô bé Xa Diễm có đôi mắt đen lóng lánh và một trái tim thơ ngây non nớt, Xa Diễm mồ côi và chỉ sống vẻn vẹn 8 năm, câu cuối cùng cô bé nói là: “Con đã từng được sống! Và con rất ngoan!”.

Bia mộ Xa Diễm với dòng chữ “Con đã từng được sống và con rất ngoan”

Xa Diễm hy vọng được chết vào mùa thu. Thân thể gầy gò của em giống một bông hoa nở theo mùa. Khi hoa vàng nở khắp mặt đất và những chiếc lá rơi chao liệng khắp nơi, em sẽ thấy cả những đàn nhạn di cư bay ngang trời xa.

Ngày 30/11/1996 (20/10 âm lịch), “cha” Xa Sĩ Hữu phát hiện một hài nhi mới sinh bị vứt bỏ đang thoi thóp và lạnh toát trong đống cỏ bên chân một cây cầu nhỏ ở thị trấn Vĩnh Hưng, ngực hài nhi cài một mẩu giấy nhỏ, chỉ ghi vắn tắt “20 tháng 10, 12 giờ đêm”.

Khi đó, cha Xa Sĩ Hữu tròn 30 tuổi, nhà ở tổ 2, thôn Vân Nha, thị trấn Tam Tinh, huyện Song Lưu, tỉnh Tứ Xuyên. Vì nhà nghèo quá, không cưới được vợ, nếu cha nhận nuôi thêm đứa trẻ này, có lẽ càng chẳng bao giờ có cô nào chịu lấy cha nữa.

Cha của Xa Diễm. Ảnh: Blog của Trang Hạ.

Cha của Xa Diễm.

Vì vậy, nhìn đứa trẻ còi như con mèo bé vừa khóc vừa ngáp ngáp thút thít, Xa Sĩ Hữu mấy lần nhặt lên rồi lại đặt xuống, bỏ đi rồi lại ngoái lại nhìn, đứa bé thân mình đầy bùn đất lạnh, tiếng khóc yếu ớt, nếu không ai cứu, chả mấy mà đứt sinh mệnh! Cắn răng, anh ôm đứa bé lên lần nữa, thở dài nói: “Thôi thì tao ăn gì, mày ăn nấy!”.

Những đứa trẻ số phận đau khổ thường khác người. Từ lúc 5 tuổi, em rất biết ý thức giúp cha làm việc nhà, giặt giũ quần áo, nấu cơm, cắt cỏ em đều biết làm thành thạo.

Vào học lớp Một, Xa Diễm biết mình phải cố gắng. Em xếp thứ Nhất trong lớp, làm người cha mù chữ của mình cũng mở mày mở mặt với làng xóm.

Tháng 5/2005, Xa Diễm thường bị chảy máu cam. Một buổi sáng ngủ dậy định rửa mặt, đột ngột em phát hiện cả chậu nước rửa mặt đã biến thành màu hồng. Nhìn kỹ, là máu mũi đang nhỏ giọt xuống, không cầm máu được. Xa Diễm mắc bệnh máu trắng (Bạch cầu cấp – acute leucimia).

Chi phí điều trị căn bệnh này vô cùng đắt đỏ, thông thường điều trị cơ bản đã cần 300 nghìn Nhân dân tệ (tương đương 600 triệu VND), Xa Sĩ Hữu choáng váng.

Ông quyết định bán cái duy nhất có thể ra tiền là căn nhà xây bằng gạch mộc, gạch chưa nung của mình. Nhưng nhà thì quá rách nát, lúc đó không thể tìm ra ai muốn mua nó.

Đứa trẻ tám tuổi tự lo hậu sự

Hôm đó về nhà, một đứa trẻ từ nhỏ đến lớn chưa từng vòi vĩnh cha bất cứ điều gì, đã đòi cha hai yêu cầu: Em muốn có một tấm áo mới, và em muốn được chụp một bức ảnh. Em giải thích cho cha: “Sau này, khi con không còn nữa, nếu cha nhớ con, cha có thể nhìn con ở trong ảnh”.

Ngày hôm sau, cha Xa Sĩ Hữu nhờ người cô đi cùng đưa cháu lên thị trấn, tiêu hết 30 tệ (60.000 VNĐ) mua một bộ quần áo mới, Xa Diễm tự mình chọn một chiếc quần cộc màu hồng phấn, người cô chọn cho Xa Diễm một chiếc váy trắng chấm đỏ, nhưng khi Xa Diễm mặc thử, thấy tiếc rẻ nên lại cởi ra.

Ba người đi đến tiệm chụp ảnh, Xa Diễm mặc bộ đồ màu hồng mới tinh, ngón tay đưa ra hình chữ V, cố gắng mỉm cười, nhưng cuối cùng cũng không kìm được để nước mắt chảy ra.

Em đã không thể đến trường nữa, em xách cái cặp đứng trên con đường nhỏ đầu làng, mắt ươn ướt.

Nếu không có một phóng viên tên là Truyền Diễm của tờ “Thành Đô buổi chiều”, thì chắc Xa Diễm sẽ chỉ như một phiến lá cây khô rụng xuống, lẳng lặng bị cuốn đi theo gió.

Cô phóng viên này sau khi biết tin từ bệnh viện, đã viết một bài báo, kể lại toàn bộ câu chuyện của Xa Diễm. Sau khi bài báo “Đứa trẻ 8 tuổi tự lo hậu sự” được đăng, cả thành phố Thành Đô đều bị cảm động, cả mạng Internet toàn Trung Quốc cũng cảm động.

Có một phong trào lan truyền trên khắp Trung Quốc, trong cả đời sống thật của thế giới người Hoa lẫn trên mạng ảo, những người có lòng tốt bắt đầu quyên góp để cứu sinh mệnh mong manh của cô bé.

Trong vòng mười ngày, con số quyên góp từ toàn thể người Hoa đã lên tới 560 nghìn Nhân dân tệ, đủ để chi phí phẫu thuật, và hy vọng cuộc sống của Xa Diễm lại được thổi bùng lên từ bao nhiêu trái tim nhân ái.

Xa Diễm. Ảnh: Blog của Trang Hạ.

Xa Diễm lần đầu tiên trong đời được uống sữa. Ảnh chụp tại bệnh viện.

Xa Diễm chịu đựng đợt hóa trị khó chịu. Trong cửa kính, Xa Diễm nằm trên giường truyền dịch, đầu giường đặt một chiếc ghế, ghế để một cái âu nhựa, thỉnh thoảng em quay người sang đó nôn.

Sự kiên cường của đứa bé khiến người lớn cũng kinh ngạc. Bác sĩ Từ Minh, người điều trị chính cho em giải thích, giai đoạn hóa trị, đường ruột và dạ dày sẽ phản ứng kịch liệt, thời gian đầu mới hóa trị, mỗi lần Xa Diễm nôn đều nhiều, nửa âu, nhưng đến “ho” một tiếng cũng không.

Trong lúc kiểm tra tuỷ xương khi nhập viện, mũi tiêm đâm từ ngực, em “không khóc, không kêu la, cũng không chảy nước mắt, đến động đậy cũng không dám”.

Hai tháng hóa trị, Xa Diễm qua được chín cửa “Quỷ môn quan”, sốc nhiễm trùng, bệnh bại huyết septicemia, tan máu, xuất huyết ồ ạt đường tiêu hóa… lần nào cũng “hung hóa cát”.

Những liệu trình đều do các bác sĩ huyết học Nhi hàng đầu của tỉnh và Trung Quốc chẩn đoán quyết định, hiệu quả rất khả quan. Bệnh máu trắng căn bản đã được khống chế. Tất cả đang chờ tin Xa Diễm lành bệnh.

Nhưng những bệnh tật đi theo những tác dụng phụ của hóa chất trị liệu rất đáng sợ. Và so với hầu hết những đứa trẻ bị bệnh máu trắng khác, thể chất Xa Diễm rất yếu ớt. Sau đợt phẫu thuật, sức khỏe Xa Diễm càng kém.

Buổi sáng ngày 20/8, em hỏi phóng viên Truyền Diễm: “Dì ơi, xin dì cho con biết, vì sao mọi người quyên góp tiền cho con?”.

“Bởi vì họ đều có lòng tốt!”

“Dì ơi, con cũng làm người tốt”.

“Bản thân con đã là một người tốt. Những người tốt sẽ giúp đỡ nhau, mới làm nên những điều càng thiện lương”.

Xa Diễm móc từ dưới gối ra một cuốn vở bài tập, đưa cho Truyền Diễm: “Dì ơi, đây là di chúc của con…”.

Phóng viên Truyền Diễm kinh ngạc, vội vã mở vở ra, quả nhiên là những việc Xa Diễm thu xếp hậu sự. Đây là một đứa trẻ tám tuổi sắp về cõi chết, nằm bò trên giường bệnh dùng bút chì nắn nót viết ba trang “Di chúc”.

Vì em còn nhỏ quá, còn nhiều chữ Hán chưa học nên chưa viết được hết, còn có những chữ viết sai. Xem có thể biết em không thể viết một mạch bức thư này, mà viết sáu đoạn.

Mở đầu là “Dì Truyền Diễm”, kết thúc là “Tạm biệt dì Truyền Diễm”. Suốt cả bức thư, chữ “Dì Truyền Diễm” xuất hiện 7 lần, và 9 lần gọi tắt là Dì.

Phía sau 16 chữ xưng hô này, tất cả là những điều “nhờ vả dì làm hộ” khi em lìa đời. Và còn cả lời muốn qua phóng viên “cảm ơn” và “tạm biệt” với cả thế giới.

“Tạm biệt dì, chúng ta sẽ gặp nhau trong mơ. Dì Truyền Diễm, nhà cha con sắp sập rồi. Cha đừng buồn, xin cha cũng đừng nhảy lầu. Dì Truyền Diễm xin dì trông coi bố con.

Dì ơi, cái tiền của con cho trường con một ít ít, cảm ơn dì chuyển lời cảm tạ tới Hội trưởng Hội Hồng thập tự. Con chết xong, mang hết chỗ tiền còn lại chia ra cho những người mắc bệnh giống con, giúp họ đỡ bị bệnh hơn…”.

Bức di chúc làm Truyền Diễm giàn giụa nước mắt, khóc không thành tiếng.

Con đã từng được sống, con rất ngoan

Nhìn Xa Diễm đau bụng lăn lộn, bác sĩ và y tá đều bật khóc. Tất cả mọi người đều muốn gánh đau cho em, nhưng, không thể làm gì được.

Tám tuổi. Xa Diễm đã thoát được cơn bệnh tật quái ác, và ra đi an lành.

Trên bia mộ, một bức ảnh Xa Diễm cười mím mím, tay cầm một bông hoa dại bé xíu. Mặt chính của bia chỉ ghi vỏn vẹn: “Con đã từng được sống, con rất ngoan! (30/11/1996-22/8/2005)”.

Mặt sau bia có ghi vài lời đơn giản giới thiệu thân thế Xa Diễm, câu cuối cùng là: “Trong những năm Em sống, Em đã được nhận những ấm áp của con người. Xin Em yên nghỉ, thiên đường có Em nên thiên đường càng đẹp đẽ”.

Theo đúng chúc thư, 540.000 Nhân dân tệ còn thừa lại chia thành những tặng vật chia cho những em bé khác bị mắc bệnh máu trắng. Bệnh viện còn ghi lại tên của 7 bệnh nhân nhi này, Dương Tâm Lâm, Từ Lê, Hoàng Chí Cường, Lưu Linh Lộ, Trương Vũ Tiệp, Cao Kiện, Vương Kiệt.

Những bệnh nhân này lớn nhất là 19 tuổi, nhỏ nhất là 2 tuổi, đều là những em gia đình quá nghèo, đang giãy giụa giữa sự sống và cái chết.

Ngày 24/9, ca phẫu thuật đầu tiên thành công dành cho bệnh nhân được nhận viện phí từ Xa Diễm, là cô bé Từ Lê ở bệnh viện Hoa Tây. Sau phẫu thuật, Từ Lê mỉm cười với gương mặt trắng xanh, nói:

“Xa Diễm, hãy yên nghỉ, về sau này, bia mộ của chúng tôi cũng sẽ ghi thêm một dòng như nhau: “Tôi đã từng đến trong đời này, và tôi rất ngoan!”.

—————-0—————0——————

Chuyện cô bé 16 tuổi làm cảm động cả trời đất

Ngày 24/8/1998, một đám tang vô cùng đặc biệt được tổ chức tại huyện Gia Tường, tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc). Người chết là một cô gái mới 16 tuổi trên là Thẩm Xuân Linh.

Nhưng cô được nhận những nghi lễ long trọng nhất của làng, những người anh trai của cô mặc tấm áo tang chỉ được mặc khi đưa tang cha đẻ. Anh trai cô quỳ rất lâu trước linh cữu em gái, người trong làng ai cũng đeo băng tang.

Nhưng không ai biết rằng, cô gái mười sáu tuổi này thực ra không hề có máu mủ ruột thịt gì với những người còn sống, cũng như với dân làng này, thậm chí cô chỉ là một đứa con gái riêng của mẹ kế mà ngay cả tên trong sổ hộ khẩu của làng cũng không có.

Tôi là con ruột của gia đình này

Tháng 6 năm 1994, mẹ của Thái Xuân Linh góa chồng, đem Xuân Linh và đứa em trai từ Long Châu Tập, huyện Phạm Trạch, tỉnh Sơn Đông (TQ) sang huyện Gia Tường với gia đình mới. Bố dượng của Xuân Linh làm nghề thợ mộc, tên là Thẩm Thụ Bình, tính tình hiền lành đôn hậu.

Bố dượng có cha mẹ già 70 tuổi, và bốn đứa con trai còn đang đi học. Trong đó anh con cả Thẩm Kiến Quốc đang học Đại học Giao thông ở Tây An. Ba cậu con trai còn lại học trường phổ thông trong huyện.

Gánh nặng gia đình quá lớn, nhưng bố dượng cô giỏi nghề thợ mộc, trong nhà cũng chỉ chi tiêu dè sẻn, nên cuộc sống gia đình cũng tạm đủ.

Khi ba mẹ con Thái Xuân Linh gia nhập đại gia đình ấy, cả nhà đều vui vẻ chào đón, hay có thể bởi nhà toàn đàn ông, giờ có một cô em gái mới, cả ông bà nội lẫn bố dượng đều rất yêu quý Xuân Linh.

Khi đó, Linh chỉ vì bố mất, nhà nghèo khó, cô đành bỏ học ở nhà. Bố dượng dứt khoát đưa tiền cho cô đi học trở lại. Trong nhà vốn đã bốn đứa con đi học, giờ thêm Xuân Linh, gánh nặng càng lớn. Ông bố dượng chỉ có cách dành thời gian làm thêm lúc nông nhàn mới đủ cho chi tiêu trong gia đình.

Xuân Linh vô cùng trân trọng cơ hội được đi học, ngay học kỳ đầu tiên quay lại trường, cô đứng thứ ba trong khối. Ngoài học tập, cô lo liệu việc nhà, lúc nào rảnh rỗi thì giặt quần áo cho các anh, vác gỗ cho bố dượng, ông bố dượng thường khen ngợi:

– Bố thật là có phúc mới có đứa con gái ngoan ngoãn thế này.

Thời gian hạnh phúc chẳng bao lâu, đầu mùa hạ năm 1995, bố dượng cô trong lúc làm công trình đã ngã từ tầng ba xuống, bị liệt giường. Cột trụ trong gia đình đã gẫy, nguồn kinh tế chính của gia đình bị cắt đứt, và tiền chữa bệnh của bố dượng cô đã mang lại một khoản nợ rất lớn cho gia đình.

Thật đáng tiếc, khi mẹ Xuân Linh được bác sĩ cho biết, bệnh của chồng mới sẽ không bao giờ khỏi, cả đời nằm liệt giường, mẹ cô đã rất đau khổ. Bà không thể chịu đựng nổi sự rủi ro liên tiếp từ hai đời chồng, lại biết không gánh vác được một gánh nặng quá lớn từ gia đình chồng, mất hết hy vọng và niềm tin vào cuộc sống.

Bà ôm đứa con trai nhỏ ra đi, bỏ lại một nhà đầy người già, bệnh tật, trẻ con cho dù Xuân Linh năn nỉ, cầu xin mẹ như thế nào.

Thấy bố như thế, người con trai thứ hai định xin nhập ngũ, ông bố không đồng ý bởi anh thứ hai và thứ ba sắp cùng thi tốt nghiệp phổ thông, thành tích luôn đứng đầu trường.

Người con thứ ba cũng đòi bỏ học, muốn đi làm để gánh vác gia đình.

Vào lúc cả nhà bàn cãi, Xuân Linh đề nghị cho em nghỉ học, thay mẹ chèo chống gia đình này. Bố dượng cô rơi nước mắt, ngay cả ông bà nội cũng khóc. Bố dượng cô đau khổ nói:

– Xuân Linh, bố xin lỗi con! Các anh con đã học chừng đó năm rồi, giờ bỏ đi uổng phí quá, bố biết là làm thế con sẽ thiệt thòi

Ba người anh trai đều nắm chặt tay em gái, cùng thề với bố, cho dù sau này ai thi đỗ đại học, cũng đều nhớ công người em gái.

Mẹ Xuân Linh bỏ đi, nguồn kinh tế của gia đình lại mất hẳn chút hỗ trợ cuối cùng. Ông bà nội đều thở dài, bố dượng gạt nước mắt, các anh trai Xuân Linh cũng lo âu, cả nhà rơi vào tình trạng thấp thỏm bất an, buồn thảm. Những người làng an ủi cô bé:

– Ở đây cháu không có người thân, hay là cháu quay về nhà ông bà ở bên Phạm Trạch đi!

– Không, cháu không đi được, mẹ cháu bỏ đi rồi cháu không thể cũng bỏ đi nốt!

Xuân Linh nói với bố dượng:

– Bố ạ, mẹ con bỏ đi rồi, là mẹ con nhẫn tâm; nhưng con hứa con không bao giờ bỏ nhà đi, con sẽ ở lại đây cùng vượt qua hoạn nạn với mọi người, từ hôm nay con xin được là con đẻ của bố!

Năm đó, Xuân Linh mới 12 tuổi, đổi từ họ Thái sang họ Thẩm.

Làm đồng, việc nhà, chăm sóc người lớn, tất cả mọi việc Xuân Linh đều gánh vác, cô bé làm việc như một phụ nữ thực thụ trong một gia đình nông dân, thức dậy lúc mặt trời mọc, trời tối hẳn mới nghỉ ngơi, cẩn trọng tính toán từng món một trong gia đình để lo liệu qua ngày.

Xuân Linh biết, để gia cảnh đỡ khó, thì sức khỏe của bố phải tốt lên, cho nên vào những lúc nông nhàn, cô bé không quên chăm sóc chu đáo cho bố. Mùa hè năm 1996, thời tiết nóng bức, bệnh tình bố dượng cô nặng lên, Xuân Linh quyết định đưa bố lên nằm viện trên thành phố Tề Ninh.

Thu xếp xong việc nhà, cô kéo bố lên thành phố chữa bệnh. Đường đất 80 km, cô kéo xe hết đúng hai ngày một đêm. Khi đến nơi, chân cô đã lở ra, vai kéo sưng u lên một cục lớn.

Để tiết kiệm tiền, Xuân Linh đã ngủ trong nhà để xe đạp của bệnh viện, người trông xe tưởng cô là ăn mày, đã mấy lần xua cô ra ngoài. Xuân Linh đành kể hết sự tình, ông già trông xe cảm động quá, không chỉ cho cô mang chiếc xe kéo đặt vào tận bên trong nhà xe, còn kiếm cho cô một cái màn chống muỗi.

Dưới sự chăm sóc của con gái nhỏ, bệnh của bố dượng cô dần ổn định hơn, cô lại kéo bố về quê trên chiếc xe ấy.

Vừa về đến quê, là vào vụ thu hoạch lúa mạch, các anh đều đang ở trường, ông bà nội chỉ có thể giúp cô nấu cơm và bó những túm lúa, thế là hơn bảy mẫu đất lúa mạch đang chín, lại một mình Xuân Linh cắt. Để kịp thu hoạch, suốt mấy ngày liên tục cô bé ngủ lại ngoài ruộng lúa, mệt tới mức không chống đỡ nổi nữa thì nằm ngủ luôn trên lúa mạch, ngủ dậy lại cắt tiếp.

Vì quá lo lắng, lại vì lao lực, miệng Xuân Linh nở những mụn nước nhỏ, tay chân xước máu. Thật sự cô bé đã kiệt sức, còn lại hai mẫu lúa mạch nữa.

Đều là lương thực gia đình trông vào đó!

Cô bé bất lực đứng giữa ruộng lúa mạch khóc nức nở không thành tiếng, khóc tới mức hàng xóm chung quanh thấy thương hại quá, bèn tới năm tay mười tay giúp cô gặt nốt mảnh ruộng.

Đợt thu hoạch khó nhọc đó đổi lại được lương thực đủ ăn cho cả gia đình.

Anh thứ hai đã đỗ kết quả rất cao trong kỳ thi tốt nghiệp trung học, nhờ kết quả đó, anh được tuyển vào trường đại học Đồng Tề ở tận Thượng Hải.

Cầm giấy báo nhập học của anh thứ hai, Xuân Linh chạy như bay về nhà quên hết mệt nhọc, nhảy lên vui sướng. Nhìn đứa em gái vừa bé vừa đen, người anh thứ ba là Thẩm Kiến Văn rớt nước mắt tủi thân vì thi trượt đại học.

Thẩm Kiến Văn buồn rầu nói:

– Anh xin lỗi, em đã vất vả vì cả gia đình, mà anh lại thi trượt!

Vừa nói anh ba vừa khóc. Xuân Linh hốt hoảng nắm lấy tay anh:

– Năm nay thi trượt thì năm sau thi tiếp, anh đừng nản chí như thế!

Thẩm Kiến Văn quyết định không thi đại học nữa, ở nhà kiếm sống giúp em gái. Xuân Linh không đồng tình:

– Em chịu vất vả cũng chỉ vì muốn các anh học lên đại học mà thôi! Anh thất bại là em cũng thất bại!

Ba nghìn Nhân dân tệ học phí là gánh nặng quá lớn với cả gia đình. Vào lúc bất lực ấy, Thẩm Xuân Linh nghĩ đến chuyện đi bán máu.

Lần thứ nhất đến nơi bán máu, vì quá nhỏ tuổi, bác sĩ không đồng ý!

Lần thứ hai, cô nói dối tuổi mình, cuối cùng được bán 200 ml máu. Cầm được 400 tệ tiền bán máu, nỗi buồn bã của cô vẫn không bớt đi. Vì 400 tệ so với 3.000 tệ thì còn quá ít ỏi. Như cốc nước hắt vào đống lửa, chả thấm vào đâu.

Ba ngày sau, cô quay trở lại trạm y tế. Lần này, nói kiểu gì bác sĩ cũng quyết không lấy máu của Xuân Linh. Quá lo lắng, cô đành quỳ xuống cầu xin bác sĩ, và kể cho ông biết lý do.

Bác sĩ trầm ngâm rất lâu, cuối cùng ông thở dài bảo:

– Thôi được, chỉ một lần này thôi nhé! Lần sau cháu đừng đến đây nữa, cháu còn quá nhỏ, cơ thể còn đang phải lớn nữa!

Ông bác sĩ chỉ rút một lượng máu rất nhỏ tượng trưng, rồi móc túi ra đưa cho cô 700 tệ, làm Xuân Linh vô cùng cảm động.

Về nhà, Xuân Linh đưa tiền cho bố dượng, bố vội hỏi tiền ở đâu ra mà nhiều thế này, cô nói dối là đi vay người ta.

Bố cô cầm tay con xem xét, lại móc từ túi cô ra hai tờ giấy bán máu.

Cả nhà cô đều kinh hãi.

Nhưng số tiền đó còn lâu mới đủ được, dù chỉ một nửa học phí cho người anh.

Bố dượng cô quyết định bán đi một phần mảnh đất từ ngôi nhà cũ của họ, ông bà nội cũng bán ba cây dương vốn định dành gỗ để đóng quan tài cho ông bà sau này. Khi bố dượng không đồng ý bán ba cây dương, ông bà nói:

– Máu của Xuân Linh còn không tiếc, chúng tôi còn cần quan tài để làm gì nữa!

Dưới sự nỗ lực của toàn gia đình, tiền học cho anh hai, anh ba cuối cùng đã thu xếp xong. Để anh Thẩm Tiến Quân có thứ để lên trường, suốt mấy tối liền Xuân Linh thức khuya khâu vỏ chăn mới và giầy vải cho anh.

Vào lúc lên đường, Xuân Linh ra bến xe tiễn anh, cô nói:

– Anh ạ, nhà mình tuy nghèo, nhưng khảng khái, anh phải học cho ra học, anh đừng lo lắng chuyện ở nhà, cũng đừng tự khắc nghiệt với bản thân mình quá, anh cần tiền tiêu cứ viết thư về cho nhà nhé, em sẽ lo cho anh!

Thẩm Tiến Quân không nén được, ôm lấy đứa em nhỏ vào lòng, cảm động trào nước mắt.

Có thể bỏ rơi cha, không được phép bỏ rơi em

Những người anh lên đường đi học rồi, Xuân Linh bắt đầu tính toán xem làm cách nào kiếm tiền để chữa bệnh cho bố, lo học phí cho các anh trai. Ban đầu, cô định theo chân các chị trong làng ra ngoài đi làm kiếm tiền, nhưng ở nhà còn hai người già và một người bệnh đều cần chăm sóc, cô chỉ có thể ở lại. Cân nhắc kỹ, cô quyết định trồng bông.

Trồng bông không giống như trồng những cây khác, không chỉ phí sức trồng trọt, ngay khoản phun thuốc sâu cho bông cũng rất nguy hiểm, nhưng Xuân Linh tính nhẩm ra, một năm trồng bông có thể thu lãi được 8-9 nghìn Nhân dân tệ (16-18 triệu VND), cô không trù trừ bắt tay vào làm ngay.

Cô háo hức trồng xuống cây bông, nhưng chẳng mấy lâu, khu vực Lỗ Tây Nam (mấy huyện thuộc Sơn Đông) gặp dịch sâu xanh trên lá bông (Helicoverpa armigera) tràn tới, vụ dịch làm Xuân Linh cuống quýt, cô bé người còn chưa cao bằng ngọn cây bông đã cõng bình xịt thuốc sâu nặng hơn 20kg sau lưng đi dọc ruộng bông để xịt thuốc.

Cô nghe người ta nói, lúc chính ngọ thời tiết nóng nực nhất, là lúc trừ sâu có hiệu quả lớn nhất. Cô liền chọn lúc giữa trưa nắng to đi phun thuốc sâu, mặt trời rát bỏng trút nóng xuống cánh đồng bông hầm hập như một lò hấp khí nóng, làm Xuân Linh không thở nổi. Cô chỉ có thể chạy phun một hàng rồi chạy ra hít thở không khí. Một ngày vào lúc chính ngọ, vì thùng thuốc sâu bị rò chảy, cô trúng độc, ngất đi.

Người làng khiêng Xuân Linh về. Lúc tỉnh lại, cô không để ý đến sự ngăn cản của người bố nằm liệt giường, lại đòi chạy ra ruộng bông luôn. Năm đó, bông được mùa thu hoạch lớn, nhưng vì thế mà giá thu mua bị dìm xuống rất thấp, và Xuân Linh vẫn không thể kiếm được khoản tiền như cô mong muốn.

Đầu óc thông minh của Xuân Linh lại suy tính, cô đang nghĩ có cách nào kiếm được tiền nhanh nhất. Lúc nông nhàn, cô đã từng theo người làng đi thu mua hoa hòe, cành liễu (dùng như sợi bàng, sợi chiếu cói của VN), cũng từng đi bán mũ nan, đậu tương. Sau này, cô nghe người ta nói táo Tứ Thủy ở huyện bên rất rẻ, cô lại cùng ông bác trong làng đi Tứ Thủy buôn táo.

Hàng ngày, sau bữa tối, cô kéo xe kéo lên đường, lúc trời hơi rạng thì tới được vườn táo, chất đầy xe táo rồi quay về ngay. Đàn ông thanh niên kéo một xe, cô cũng kéo một xe. Dọc đường, người ta đều ăn táo giải khát, cô thì chưa từng ăn một quả táo nào, ngay cả những quả dập nát cũng giữ lại phần bố, cho ông bà ăn.

Anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa thấy đứa em 14 tuổi vất vả như thế, quá áy náy, quyết định bỏ học và cũng trốn nghĩa vụ quân sự, ở nhà kiếm sống thay em.

Xuân Linh khuyên anh thế này:

– Em hâm mộ nhất trên đời này là quân nhân, anh ở nhà rồi sau này anh sẽ ra sao? Anh cứ đi đi, em vẫn còn chống đỡ gia đình này được.

Ngày anh tư lên đường, Xuân Linh rút từ trong túi ra một ít tiền lẻ nhàu nát dúi vào tay anh trai:

– Đây là 80 tệ, tiền em dành riêng ra, anh giữ lấy để tiêu vặt, vào bộ đội rồi anh nhớ cố gắng.

Thẩm Kiến Hoa mắt rưng rưng.

Mùa xuân năm 1997 là mùa xuân vui sướng hạnh phúc nhất của Xuân Linh. Tết năm đó, ngoài người anh thứ tư đang ở bộ đội, cả ba anh trai đều quay về nhà ăn tết. Và ai cũng mang quà về cho cô em gái. Người anh cả là sinh viên mang tặng em một bộ quần áo mới, người anh thứ hai cũng là sinh viên tặng em một chiếc khăn màu hồng, người anh thứ ba đang ôn thi cũng mua cho em một hộp kem trang điểm.

Xuân Linh ôm tất cả quà vào lòng vui sướng, nhảy lên cười, lúc đó cô bé quay trở lại vẻ ngây thơ con nít vốn có. Bố gọi ba đứa con trai đến bên giường:

– Các con phải báo đáp cho Linh, vì nó đã quá khổ sở rồi. Ngày sau các con trưởng thành, các con có quyền quên bố đi, nhưng không bao giờ được phép quên Xuân Linh.

Tình thân vĩnh viễn

Công việc nhà nông bận rộn, nhưng Xuân Linh không quên bệnh của bố dượng, hễ có hy vọng, ngại gì đường xa núi cao, cô đều kéo bố đi. Trời xanh không phụ người có công, bệnh của bố dượng đã đỡ hơn rất nhiều, đã có lúc ông chống được gậy đứng lên. Những người anh học hành tấn tới. Anh cả Thẩm Kiến Quốc sau khi tốt nghiệp đại học đã thi đỗ để học tiếp Thạc sĩ.

Người anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa đã được vào Đảng trong quân ngũ, được đề bạt lên làm trung đội trưởng. Tháng 9/1997, người anh thứ ba Thẩm Kiến Văn cũng thi đỗ cao đẳng, được Học viện Đông y Sơn Đông nhận vào học.

Tháng 3/1998, bà nội bỗng dưng bệnh nặng, lúc lâm chung, bà cụ nắm chặt lấy tay Xuân Linh nói: “Xuân Linh, cả đời bà chẳng có gì tiếc nuối, vì đã có một đứa cháu ngoan như cháu, bà chỉ thương xót cháu thôi!” Nói rồi bà lần từ dưới gối ra một chiếc vòng tay bằng ngọc đưa cho Xuân Linh, Xuân Linh không dám cầm. Ông nội nói: “Xuân Linh, đấy là thứ bà nội định để dành cho cháu dâu đầu, nhưng bà nội nghĩ, cái vòng này nên để dành cho cháu, cháu hãy nhận cho bà mãn nguyện đi!”. Xuân Linh nuốt nước mắt rưng rưng nhận lấy.

Sau khi bà nội mất, người anh thứ tư viết thư về, nói sẽ chuẩn bị thi vào trường quân sự, nhưng khi biết bà nội vừa mất, trong nhà đã lo liệu hết tiền, anh bèn quyết định bỏ cuộc. Xuân Linh đọc thư, lo lắng, cô liền tìm người nhờ gửi thư cho anh trai khuyên ngăn, và gửi kèm theo đó 200 tệ, để anh trai mua sách vở ôn thi. Cô nói: “Anh ạ, thi vào trường quân sự là việc lớn cả đời anh, đừng để khó khăn trước mắt làm ngăn cản việc cả đời”.

Đúng lúc đó, mẹ Xuân Linh đã bỏ đi biệt tăm tích lâu nay, bỗng gửi thư về cho cô, thì ra mấy năm nay, mẹ cô bỏ đi rồi đã làm một tờ giấy li hôn giả mạo với bố dượng, rồi sang huyện Bình Dương ăn ở với một ông có tiệm thực phẩm, cuộc sống khá sung túc. Mẹ cô nghe qua người khác mới biết con gái mình mấy năm nay chịu cực khổ vô vàn, trong lòng bà rất ăn năn. Mẹ cô gửi thư tới muốn bảo con gái bỏ sang huyện Bình Dương, hứa sẽ tìm cho cô một gia đình đàng hoàng để gả chồng.

Đọc lá thư của mẹ, Xuân Linh nước mắt dào dạt, rất muốn được sống một cuộc sống đơn giản vô lo của một cô con gái bên cạnh mẹ. Nhưng cô cũng không thể nào bỏ rơi gia đình này, cái gia đình nghèo khổ hoạn nạn, nhưng cả nhà đều chân tình yêu thương cô!

Bố dượng biết con gái khó xử, khuyên cô:

– Xuân Linh, đi tìm mẹ con đi! Bố không trách con, cả nhà ta đã khổ, kéo theo cả đời con khổ theo thì bố không nỡ lòng nào!

Xuân Linh cắn chặt môi, quỳ xuống trước giường bệnh của bố:

– Bố ạ, khổ sở nữa con cũng chịu được, bố đừng đuổi con đi!

Xuân Linh nhờ người viết thư trả lời mẹ rằng, cô không muốn theo mẹ.

Một ngày tháng 9/1998, vì muốn kiếm tiền cho anh trai thứ tư ôn thi, cô lại nghĩ đến việc đi bán máu. Sau rất nhiều lần cầu xin, cuối cùng bác sĩ đã đồng ý, lấy 300ml máu của cô. Vốn thân thể gầy gò yếu ớt vì thiếu dinh dưỡng, giờ Xuân Linh càng yếu.

Nhưng cô lấy lại tinh thần, đi ra bưu điện gửi mấy trăm tệ đó cho anh. Lúc liêu xiêu qua đường, vì không còn tinh thần để ý kỹ, cô bị một xe tải lớn chở các cuộn sắt gạt ngã, bánh xe lớn nghiến qua người Xuân Linh.

Tin dữ đến, ông nội cô không chịu đựng nổi, đổ bệnh liệt giường, bố dượng Xuân Linh cũng ngất đi nhiều lần. Người anh thứ ba Thẩm Kiến Văn là người đầu tiên biết tin này, anh chạy về nhà, chỉ còn biết khóc bên thi thể em.

Người anh thứ hai Thẩm Kiến Quân nhận được điện báo, suốt hai ngày đi tàu về không ăn không ngủ, khóc từ Thượng Hải về đến Sơn Đông.

Ở tít tận Tây An, người anh cả Thẩm Kiến Quốc đang học thạc sĩ được tin cũng khóc rụng rời, không thể về dự đám tang được, anh điện về nhà: “Em gái yêu quý, em dùng tấm lòng người mẹ để gánh vác cả gia đình này, dùng đôi vai yếu ớt để dựng lên một niềm hy vọng, cả gia đình mãi mãi yêu em.”

Vừa nhận được giấy báo nhập học của Học viện Lục quân Quế Lâm, người anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa cũng đồng thời nhận tin em chết, anh ngã ngất đi trên thao trường. Tỉnh dậy liền vội vã về quê.

Nhưng ở quê, những người chết trẻ vị thành niên không được phép tổ chức đám ma, ngay cả nghĩa trang của dòng họ cũng không được phép vào chôn cùng.

Xuân Linh đến đây sống bốn năm, họ tên thì đã đổi, nhưng hộ khẩu thì không có, ngay cả tư cách là dân chúng của địa phương cũng không có, không được coi là người làng. Nhưng những người già trong làng cảm động trước cuộc đời hiếu nghĩa của Xuân Linh. Người già nói, đứa con gái tốt đẹp thế, chết rồi thì tại sao còn phải để nó phải chịu tức tưởi nữa.

Nhà văn Lưu Hồng, người đã từng đến viết bài phỏng vấn Xuân Linh hồi trước cũng đến dự tang lễ, và viết một bài ai điếu cho cô bé:

“Em, là một đóa hoa giữa thung lũng, một vệt mây ở bên trời, lặng lẽ đến, lại lặng lẽ đi.

Đôi vai nhỏ gánh đầy tình người, tâm hồn nhỏ nâng đỡ cả gia đình, tuổi còn trẻ như thơ như họa, như tơ như khói, lại đầy gian nan khốn khó vất vả.

Em đi rồi, nhẹ như thế, như đám mây bên trời xa, câu chuyện để lại nặng như thế, ân tình cao như núi Thái Sơn…”.

Những người con gái đều có những son phấn của riêng mình, có lẽ Xuân Linh cả đời chưa chạm vào son phấn, nhưng cô vẫn là người con gái đẹp nhất.

Năm 2007, Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc dự định làm một bộ phim truyền hình 100 tập về 100 tấm gương tốt cảm động thời nay, lấy tên phim là “Câu chuyện của chúng tôi” để giáo dục thế hệ trẻ Trung Quốc, câu chuyện về Xuân Linh sẽ được dựng lại ở tập mười sáu.

—————-0—————0——————–

Cô giáo trẻ bán thân để học sinh có tiền đi học

Ân Thái Hà khi làm gái bán hoa
Ân Thái Hà khi làm gái bán hoa

Ân Thái Hà sinh ra tại một vùng quê nông thôn ở tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Ở vùng đất nghèo đói này, các cô thôn nữ dù xinh hay xấu cũng đều sớm lần lượt tới các thành phố phương Nam kiếm tiền, để rồi mỗi lần Tết đến, họ đều mặt hoa da phấn, gói to gói nhỏ hân hoan trở về.

Còn Ân Thái Hà sau khi tốt nghiếp cấp ba lại không lựa chọn cho mình con đường đi như vậy. Đó là điều mà ai nấy trong thôn đều thắc mắc bởi xét cho cùng cô cũng là đứa con gái xinh nhất nhì cái thôn xóm nghèo này.  Ân Thái Hà thường xuyên phải hứng chịu những lời mắng nhiếc của bố mẹ, bởi họ cho rằng, đứa con mình chẳng làm nên trò trống gì.

Biết tin một ngôi trường tiểu học quê mình thiếu giáo viên, Ân Thái Hà đã chủ động tới xin dạy miễn phí. Bởi thành tích học tập cấp 3 tốt nên cô đã dễ dàng vượt qua các kỳ thi sát hạch, chính thức trở thành một cô giáo làng.

Lần đầu tiên Ân Thái Hà bước vào lớp, bọn trẻ con không ngừng trầm trồ khen ngợi, bởi vì từ trước tới nay, chúng chưa bao giờ được nhìn thấy cô giáo nào xinh đến thế. Cũng từ đó mà lớp học ngày ngày tràn ngập tiếng nói cười của học sinh. Nói là phòng học, nhưng thực ra nó cũng chỉ là một túp lều cỏ tránh mưa tránh gió, thân cây làm tường, đá làm bàn học, gạch xếp thành bục giảng, thứ có giá trị nhất là chiếc bảng đen được làm từ gạch, sau khi mài nhẵn, quết thêm lớp sơn đen. Ngay phấn viết cũng không đủ dùng, cô trò thường phải dùng vôi thay thế. Trong điều kiện thiếu thốn như vậy, Ân Thái Hà vẫn kiên trì dạy lũ trẻ từng nét chữ, dạy chúng cách làm người.

Đêm khuya gió to đã thổi bay nóc lớp học, bảng đen cũng bị thổi lật. Ngày hôm sau đến trường, cả thầy và trò đều ngẩn ngơ. Thầy hiệu trưởng tới tìm gặp Cục trưởng Cục giáo dục của huyện để xin tiền nhưng rốt cục cũng trở về tay không. Tối về, thầy hiệu trưởng nói với Ân Thái Hà, Cục trưởng muốn cô tới tận nơi để lấy tiền. Một cô gái chưa từng đi xa nhà, chưa từng giao tiếp nhiều với người xung quanh như Ân Thái Hà đã lấy hết can đảm đi bộ 10 cây số tới gặp Cục trưởng.

Phòng làm việc của Cục trưởng bày biện vô cùng đẹp mắt, trên tường treo nhiều bức ảnh quý giá, bàn làm việc đen bóng, còn có thể nhìn thấy bóng người bên trên. Trên bàn làm việc có một lá Quốc kỳ nhỏ, còn ghế của Cục trưởng là ghế da, bóng lộn như được đánh xi, thậm chí nó còn bóng hơn màu tóc của Cục trưởng. Nhìn thấy Ân Thái Hà, Cục trưởng vồn vã hỏi chuyện, nhưng tất cả đều không đề cập tới mục đích cô tới đây.

Mãi tới đêm khuya, thầy hiệu trưởng chỉ tay tới cửa một căn phòng, nói Ân Thái Hà cùng tới đó lấy tiền với ông. Khi Ân Thái Hà bước vào, cô chỉ nhìn thấy một chiếc giường và lần đầu tiên quý giá của đời con gái, Hà đã “hi sinh” nó để đổi lấy tiền màng về cho các em học sinh.

Ân Thái Hà không khóc, bởi vì, trước mắt cô giờ đây chỉ hiện ra hình ảnh đáng thương của các em học sinh đang chờ phòng học để lại được ngày ngày lên lớp.

Mặc đêm khuya, cô vẫn trở về nhà, không ai nói hết được nỗi nhục, sự xấu hổ đang dâng trào trong lòng cô.

Ngày hôm sau, những người dân trong thôn tự động tới trường, mua một ít vật liệu để dựng lại phòng học đổ nát nhưng chắc chnhững ngày mưa gió sẽ vẫn không thể lên lớp được. Ân Thái Hà nói với đám trẻ, sẽ không lâu nữa, huyện sẽ cử người tới mua gạch để xây cho chúng ta một phòng học thật vững chãi. Trong suốt nửa năm đó, thầy hiệu trưởng đã phải tới tìm Cục trưởng hơn chục lần nhưng đến một đồng cũng không nhận được.
Chỉ có thầy hiệu trưởng mới biết Cục trưởng đã làm gì với Ân Thái Hà nhưng chỉ mình ông biết thì làm được gì. Năm học mới đã bắt đầu, có rất ít người có khả năng nộp tiền học cho con, số học sinh cố trụ lại được ngày càng ít, chúng đều phải theo cha mẹ đi thả cừu rồi. Nhìn thấy cảnh tượng này, Ân Thái Hà vô cùng đau lòng, cô đau lòng khi nhìn thấy lũ trẻ không được ngày ngày cắp sách tới trường.

Khi Ân Thái Hà biết niềm hi vọng được đến trường của lũ trẻ đã trở nên quá xa mờ, cô đã cởi quần áo khoác trên mình, đứng trước gương, tự hứa sẽ dùng tấm thân này để hoàn thành giấc mơ cắp sách tới trường của lũ trẻ. Cô biết rằng, những người em người chị trong thôn mình đều xa quê để làm cái nghề bán thân đó. Cô hiểu đó là cách kiếm tiền nhanh nhất. Cô vội vàng đi tắm rồi tới từ biệt thầy hiệu trưởng, từ biệt cha mẹ, từ biệt căn phòng cỏ dột nát để đến với chốn phồn hoa đô thị. Trước khi Ân Thái Hà đi, bố mẹ cô cười còn thầy hiệu trưởng đã khóc…

Nơi phồn hoa đô thị đó đối với Ân Thái Hà không chút hấp dẫn, trong mắt cô chỉ hiện ra hình ảnh căn phòng cỏ thấp tè cùng ánh mắt hi vọng được đi học của lũ trẻ. Cô bước vào một cửa hiệu cắt tóc, nằm lên chiếc giường nhơ nhúa, để cho người khác chà đạp lên thân thể mình lần thứ hai. Ngày hôm đó, cô viết trong nhật ký: “Hóa ra Cục trưởng cũng chẳng bằng khách làng chơi.”

Ân Thái Hà là người tiết kiệm nhất trong số chị em ở đó. Cô không trang điểm, cũng không hề mặc lên mình những bộ quần áo hở hang nhưng cô luôn là người đông khách nhất, cô luôn là người cướp cơm của những chị em khác, cũng chính bởi thế mà cô luôn phải gánh chịu những trận đánh hội đồng của những người bán dâm khác. Mỗi lần mặt mày thâm tím, cô lại phải chuyển tới nơi khác. Mỗi lần nhìn thấy gương mặt bỉ ổi của khách làng chơi, Ân Thái Hà dường như lại nhìn thấy nụ cười rạng rỡ của lũ trẻ nhỏ quê mình. Chính vì thế, cô chưa từng một lần rơi nước mắt, bởi vì, cô là một giáo viên.

Sau khi trừ đi tiền sinh hoạt phí, Ân Thái Hà gửi toàn bộ số tiền mình kiếm được cho thầy hiệu trưởng. Theo lời dặn của Ân Thái Hà, thầy hiệu trưởng đã dùng toàn bộ số tiền đấy để cải thiện dần cho phòng học của trường. Mỗi lần có người hỏi tiền ở đâu ra, thầy hiệu trưởng đều nói là tiền quyên góp của xã hội dành tặng thôn.

Nhưng rồi, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lộ ra, cuối cùng một hôm có thông tin từ bưu điện truyền về, nói rằng chỗ tiền đó là của cô giáo Ân gửi về. Sau khi biết được tin đó, khắp nơi đều tra hỏi Ân Thái Hà, nhưng cô đều khéo léo từ chối trả lời, bởi cô, là gái bán dâm.

Có tiền, trường học đẹp hơn hẳn. Tháng đầu tiên, trường mua được bảng đen, sửa lại nóc phòng. Tháng thứ hai đã có bàn gỗ. Tháng thứ ba tất cả trẻ em đều đi học, tháng thứ tư, học sinh ai nấy đều có khăn quàng đỏ. Đến tháng thứ năm, không còn học sinh nào phải đi chân đất tới trường nữa rồi.

Tháng thứ sáu cũng là lúc Ân Thái Hà trở về. Nhìn thấy cô từ xa, bọn trẻ đều tranh nhau chạy tới, gọi mừng: “Cô Ân đã về rồi… Cô Ân xinh đẹp đã về rồi…” Nhìn thấy gương mặt rạng ngời của lũ trẻ, Ân Thái Hà không cầm nổi nước mắt, những giọi nước mắt buồn tủi trong suốt nửa năm qua cuối cùng cũng đã rơi.

Ở nhà được vài ngày, cô giáo Ân lại tiếp tục lên đường.

Đến tháng thứ bảy, trường đã có sân vận động, tháng thứ tám có sân bóng rổ, tháng thứ chín học sinh đều có bút chì mới, tháng thứ mười sân trường tung bay lá Quốc kỳ. Vậy là ngày ngày các em học sinh đều có thể đứng tại sân vận động, dưới lá Quốc kỳ, hát vang bài Quốc ca.

Tháng thứ 11, vì một người khách kiên quyết không chịu dùng bao cao su nên cuối cùng cô giáo Hà đã mang thai, sau khi giải quyết cái thai, Ân Thái Hà trở thành vợ bé của người đàn ông đó. Nhưng vì nửa năm gần đây làm ăn thất bát nên người đàn ông đó đã rũ bỏ cô. Cô ra đi với hai bàn tay trắng.

Từng đấy chuyện xảy ra khiến Ân Thái Hà cảm thấy vô cùng mệt mỏi, cô muốn về nhà, muốn trở về với những đứa trẻ thân thương. Nhưng ước mơ lớn nhất của cô là xây cho lũ trẻ một phòng học to đẹp, rồi mua cho chúng máy tính. Để thực hiện ước mơ đó, cô lại một lần nữa hạ thấp mình tới cầu xin người đàn ông đã rũ bỏ mình. Người đàn ông đó nói không có tiền, nhưng có thể giới thiệu cô cho một ông chủ khác sẵn sàng bỏ ra 3000 đô- la Mỹ để mua cô trong chỉ một đêm. Nghĩ tới bao khó khăn gian khổ đã trải qua, Ân Thái Hà lại một lần nữa nhắm mắt nằm lên giường của ông chủ giàu có đó. Cô thề với bản thân, qua nốt đêm nay, cô sẽ về nhà, sẽ về với lớp học thân thương.

Nhưng cũng chính vào đên hôm đó, Ân Thái Hà đã bị người đàn ông đó cưỡng bức cho tới chết. Trước khi cô chết cũng chỉnh là lúc cô vừa bước sang sinh nhật lần thứ 22.

Đám tang của cô giáo Ân
Ân Thái Hà ra đi, nhưng cô vẫn chưa hoàn thành được tâm nguyện là xây cho các em học sinh một phòng học thật đẹp, mua cho chúng những chiếc máy tính thật tốt.

Đám tang đưa tiễn Ân Thái Hà ngập tràn trong nước mắt. Mọi người nhìn thấy một bức ảnh đen trắng của cô, trong ảnh, nụ cười cô thật hồn hậu. Thầy hiệu trưởng lật mở cuốn nhật ký của Ân Thái Hà, nghẹn ngào đọc trong nước mắt. Cô viết: “Mỗi lần bán thân, có thể giúp một em học sinh có cơ hội cắp sách tới trường. Mỗi lần làm vợ bé, có thể mang lại hi vọng cho cả một trường học…”

Lá Quốc kỳ đỏ thắm trong sân trường treo rủ.

Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, lá Quốc kỳ đỏ thắm treo rủ vì một cô gái bán dâm vĩ đại.

———————0————–0—————–

Khoảnh khắc chú chó hy sinh cứu hàng chục người và đàn con nhỏ

Giờ đây, nghĩa trang Hạ Gia Sơn thuộc thành phố Cửu Giang (Trung Quốc) vẫn còn một ngôi mộ kỳ lạ. Ngôi mộ ấy phía trên tạc tượng một chú chó, ở dưới là tấm bia tưởng niệm ghi lại câu chuyện cảm động diễn ra cách đây 15 năm về trước.

Đó chính là nơi an nghỉ của Trại Hổ – chú chó dũng cảm đã dùng tính mạng của mình để cứu sống hàng chục người khỏi nguy hiểm.

Chú chó hy sinh tính mạng để cứu hàng chục người và đàn con nhỏ

Câu chuyện này xảy ra cách đây 15 năm về trước. Hôm đó là trưa ngày 28/11/2003, thầy giáo Lưu của Trường đào tạo lái xe ở thành phố Cửu Giang mua về nhà một con chó đã chết, căn dặn đầu bếp nấu thịt chó vào bữa tối để thết đãi mọi người.

Khi món ăn được chế biến xong, mùi thơm nức mũi tỏa ra khiến đàn chó con mới đẻ ở gần đó cũng mon men tới gần. Thấy đàn chó con có vẻ thèm thuồng, mọi người liền gắp cho chúng một miếng thịt.

Nhưng đúng lúc ấy, chú chó mẹ tên là Trại Hổ đột nhiên xông với, trừng mắt và gầm gừ đe dọa đàn con của mình. Dáng vẻ dữ tợn của Trại Hổ khác hẳn so với tính cách hiền hòa thường ngày. Hai móng của nó giữ chặt miếng thịt trên mặt đất, cương quyết không cho đàn chó con đụng vào.

Một chú cún con không hiểu chuyện gì, liền tiến đến dụi đầu vào người mẹ nó. Thế nhưng Trại Hổ không chút mềm lòng mà hất mạnh nó ra phía ngoài cửa. Những chú chó khác thấy mẹ nổi giận liền lập tức nhao nhao bỏ chay.

Trại Hổ tiếp tục hướng về phía miếng thịt dưới đất, không ngừng sủa lớn. Nhưng mọi người chẳng mấy ai chú ý tới điều bất thường ấy.

Lúc này, Trại Hổ càng tỏ ra gấp gáp. Nó hướng về phía nồi thịt sủa inh ỏi, cuống quýt đi vòng quanh đó như muốn nói điều gì.

Bấy giờ, các nhân viên nhà bếp nghĩ Trại Hổ đang đói nên gắp thêm cho nó mấy miếng. Nào ngờ nó chỉ giữ chặt miếng thịt dưới móng, chẳng những không buồn ăn mà còn tiếp tục sủa lớn.

Vì công việc quá nhiều, lại không hiểu chú chó muốn nói gì, mọi người đều bỏ ngoài tai tiếng sủa của Trại Hổ mà không biết đó là lời cảnh báo nguy hiểm.

Bấy giờ, người đến nhà ăn ngày một nhiều. Họ tụ tập bên cạnh chiếc nồi lớn nấu thịt chó, còn Trại Hổ ở đó vẫn không ngừng sủa to. Tiếng sủa của nó càng lúc càng lớn, càng lúc càng thảm thiết.

Thấy mọi người vẫn không để ý đến mình, Trại Hổ bỗng nhiên nhảy vọt từ dưới đất, kêu lên vài tiếng nức nở. Nghe thấy tiếng rên của mẹ, bốn chú chó con từ bên ngoài cũng chạy vào nhà bếp.

Trại Hổ cạ chiếc mũi ẩm ướt của mình hôn lên từng đứa con. Nó thè lưỡi liếm sạch vết bẩn cho chú chó bé nhất trong đàn, ánh mắt rưng rưng như sắp khóc.

Ngay sau đó, nó lao đến phía trước đám người, dụi đầu vào chân họ. Nhưng vẫn chẳng ai hiểu chú chó muốn ám chỉ điều gì.

Bỗng nhiên, Trại Hổ ngồi trên mặt đất kêu lên thảm thiết. Kêu đến tiếng cuối cùng, nó cúi đầu ăn một mạch hết ba miếng thịt.

Không tới 10 phút sau, Trại Hổ đau đớn lăn lộn trên nền đất. Nó liên tục co giật và chảy máu, chẳng bao lâu sau thì chết.

Hóa ra, số thịt chó chuẩn bị cho bữa ăn hôm đấy bị nhiễm chất độc. Trại Hổ đã dùng mọi cách để ngăn mọi người và đàn con của mình ăn thịt, nhưng vì không ai hiểu ý, nên chú chó ấy đành hy sinh tính mạng của mình để cứu mọi người.

Sự đền đáp xứng đáng dành cho Trại Hổ

Không nghĩ tới trong thịt chó lại có chứa chất gây ngộ độc, 30 người trong phòng ăn ngày hôm đó vẫn còn sợ hãi mỗi khi nhắc lại câu chuyện này.

“Trước đây, tôi thường nghe chuyện chó cứu người bị nạn. Vốn tưởng đó chỉ là tin vịt, không ngờ hôm nay lại được tận mắt chứng kiến việc này…

Thịt chó vốn là tôi mua về, nếu như xảy ra chuyện gì với mọi người, tôi cũng không tránh khỏi bị truy cứu. May mắn là Trại Hổ đã cứu sống chúng tôi” – Thầy giáo Lưu bùi ngùi nhớ lại.

Sau khi Trại Hổ chết, chủ nhân của nó là vợ chồng ông Phó Văn Khải đã đem chôn chú chó dũng cảm ấy sau vườn nhà.

Biết được câu chuyện chú chó hy sinh tính mạng cứu một lúc hơn 30 người, Giám đốc Nghĩa trang Hạ Gia Sơn là ông Trương Kháng Ninh đã tìm tới nhà vợ chồng ông Khải và ngỏ ý muốn đưa Trại Hổ tới an táng tại nghĩa trang thành phố Cửu Giang.

Chuyện cảm động về khoảnh khắc chú chó hy sinh cứu hàng chục người và đàn con nhỏ

Ông Trương Kháng Ninh xúc động chia sẻ:

“Vạn vật trên đời rồi sẽ có ngày mất đi, thứ lưu lại vĩnh viễn chính là tinh thần. Lẽ nào tinh thần xả thân cứu người của Trại Hổ không đủ để tất cả chúng ta kính nể hay sao?”.

Không lâu sau đó, ông Trương đã dành ra hơn 10.000 NDT để mời người tới xây cất mộ, đóng quan tài và khắc tượng và bia cho Trại Hổ.

Ngày 10/12/2003, mộ của Trại Hổ chính thức được di dời tới nghĩa trang thành phố Cửu Giang. Ngày di dời mộ hôm đấy có tới hơn trăm người đội mưa đưa tiễn chú chó dũng cảm về nơi an nghỉ.

Chuyện cảm động về khoảnh khắc chú chó hy sinh cứu hàng chục người và đàn con nhỏ - Ảnh 3.

Ngôi mộ của Trại Hổ vẫn thường xuyên có người tới đặt hoa tưởng niệm.

Nhớ lại ngày hôm ấy, thầy Lưu nghẹn ngào:

“Ngày đó, có hơn trăm người đội mưa đi đưa tiễn Trại Hổ. Những người được cứu ai cũng nước mắt giàn giụa. Mười mấy tiếng pháo đồng loạt vang lên, cảnh tượng khiến cho ai nhìn cũng xúc động”.

Ông Trương Ninh Kháng còn đích thân viết bia ghi lại công lao của chú chó ấy:

“Trại Hổ là một chú chó săn cái hơn 3 tuổi, sinh được 13 đứa con. […] Chú chó trung thành Trại Hổ dùng cái chết để cảnh báo mọi người rằng trong thịt có độc, cứu sống được hơn 30 người. Nay chôn cất ở Hạ Gia Sơn”.

Chuyện cảm động về khoảnh khắc chú chó hy sinh cứu hàng chục người và đàn con nhỏ - Ảnh 4.

Nơi an nghỉ của Trại Hổ giờ đây vẫn thường xuyên được canh giữ bởi chính đứa con của chú chó ấy. 

Nửa năm sau khi Trại Hổ mất, người chủ của nó là ông Phó Văn Khải cũng không may qua đời. Theo di nguyện của ông Phó, ông muốn được chôn cất tại nghĩa trang Hạ Gia Sơn ở gần mộ Trại Hổ.

Trên bia mộ của ông Phó Văn Khải còn ghi:

“Đây là nơi an nghỉ của một ông lão lương thiện. Vào một ngày mưa phùn lất phất, có chú chó săn nhỏ chỉ mới 5 tháng tuổi đi lạc vào nhà ông, từ đó về sau không rời đi. Ba năm sau, chính chú chó ấy đã cứu sống hơn 30 mạng người.

Hôm nay, ông ấy nằm an nghỉ ở nơi này trong sự biết ơn của mọi người – chủ nhân Trại Hổ”.

Không lâu sau đó, một chú chó trong đàn con của Trại Hổ đã trở thành chú chó săn được nghĩa trang Hạ Gia Sơn nhận nuôi. Mỗi ngày, chú chó nhỏ ấy đều ngoan ngoãn trông coi bên cạnh phần mộ của chủ nhân và mẹ mình…

 

 

Advertisements

About dontruongbt

Phong Kiến Đại Sư
Bài này đã được đăng trong Suy Ngẫm Làm Người, Truyện Ngắn. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: