Chuột lang nướng

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 1

Cuy hay còn gọi là chuột lang xuất hiện trong bữa ăn của người dân Peru cách đây từ hàng ngàn năm và trở thành một đặc sản không thể thiếu trong các dịp lễ hội.

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 2

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 3

Chúng được nuôi và chăm sóc rất cẩn thận để cho hương vị thơm ngon nhất. Thức ăn chủ yếu của chúng là rau củ nên thịt rất sạch và thơm.

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 4

Thịt chuột lang có hàm lượng protein cao nhưng lượng cholesterol lại thấp, có giá trị dinh dưỡng cao hơn thịt heo, gà nên rất được ưa chuộng tại các nhà hàng. Một công ty ở Connecticut đã nhập khẩu tăng gấp đôi số lượng đến hơn 1000 con mỗi ngày. Điều này cho thấy nhu cầu tiêu thụ loài gặm nhấm này rất cao.

 

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 6

Thịt chuột lang sau khi làm sạch sẽ được tẩm ướp gia vị kỹ, để khi nướng thì lớp da mới vàng rụm, hấp dẫn được.

Hương vị của món này gần giống thịt gà nhưng lại thơm và đậm vị hơn rất nhiều, nhai không hề có cảm giác ngán mà lại bùi bùi rất lạ miệng.

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 8

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 9

Thịt chuột lang nướng này có thể ăn kèm với khoai tây chiên, salad hoặc các loại sốt yêu thích.

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 10

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 11

Chuột lang nướng, món đặc sản gây tranh cãi "nảy lửa" ở nhiều quốc gia - 12

Advertisements
Đăng tải tại Ẩm Thực | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ẩm thực

Bánh tráng cá cơm trên làng chài Cao Nguyên

Làng ngư phủ trên sông Sê San nằm trên một đảo nhỏ giữa dòng Sê San. Làng có 24 nóc nhà nổi lênh đênh trên mặt nước. Không hẹn mà gặp, 24 hộ dân trên xóm chài này ở các tỉnh khác như như: Hải Dương, Thừa Thiên-Huế, Quảng Bình, An Giang, Cà Mau…và cùng đến khu vực sông Sê San lập thành một làng chài lưới và mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá.

Lâu nay, người dân đã quen với cá cơm ở biển, nhưng khi đến với sông Sê San các bạn cũng có thể thưởng thức loài cá cơm sông béo ngậy và vị thơm giòn đặc trưng của đại ngàn Cao Nguyên. Theo giới thiệu, loài cá này chỉ có ở dòng Sê San, thuộc khu vực lòng hồ của thủy điện Sê San 4. Cá cơm sông nhỏ hơn cá cơm biển, chiều dài khoảng 3 – 4cm, có thân mình trắng trong, phần bụng trắng đục như hạt cơm.

Cá cơm sông Sê San thường được chế biến thành các món ăn như, cá cơm chiên vàng, kho với thịt ba chỉ, gỏi cá cơm trộn với xoài xanh… Những khi đến đây, du khách phải thử món bánh tráng cá cơm được chế biến một cách dân dã mang đậm nét đặc trưng của vùng sông nước miền Tây.

Hình ảnh đặc sản món bánh tráng cá cơm trên sông Sê San

Làng chài trên sông Sê San

Làng chài trên sông Sê San

Đặc sản bánh tráng cá cơm sông Sê San

Đặc sản bánh tráng cá cơm sông Sê San

Với sự khéo léo những người dân đã làm nên món bánh tráng cá cơm giòn, ngậy béo

Với sự khéo léo những người dân đã làm nên món bánh tráng cá cơm giòn, ngậy béo

 Bánh tráng cá cơm lòng hồ sông Sê San đã mang đến cuộc sống ổn định cho bà con làng chài

Bánh tráng cá cơm lòng hồ sông Sê San đã mang đến cuộc sống ổn định cho bà con làng chài

Bánh tráng cá cơm làm say lòng bao du khách

Bánh tráng cá cơm làm say lòng bao du khách

Đặc sản cá rô phi phơi khô, chiên giòn

Đặc sản cá rô phi phơi khô, chiên giòn

Quay rớ…bắt cá cơm

Quay rớ…bắt cá cơm

Thắp đèn bắt cá cơm trên lòng sông Sê San

Thắp đèn bắt cá cơm trên lòng sông Sê San

 Mưu sinh trên lòng hồ sông Sê San.

Mưu sinh trên lòng hồ sông Sê San.

————–0—————0——————

“thợ săn” người Dao đi đêm bắt tôm khe giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn vi vút gió, chúng tôi ngược dòng nước suối lạnh buốt vào lúc nửa đêm để theo chân người Dao ở thôn Tân Ốc, xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh) đi bắt tôm khe. Loài tôm tự nhiên này chỉ có ở những con khe suối vùng núi cao, có vị ngọt bùi, không tanh như tôm biển.

Điều làm chúng tôi ấn tượng nhất, đó là cách mà người Dao ở đây bắt tôm bằng một dụng cụ hết sức thô sơ, tựa như cách của những bộ lạc thời nguyên thủy xưa vẫn làm.

Khe, suối từ thượng nguồn bản Khe Kẻn (thôn Tân Ốc 2, xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ) là nơi trú ngụ của các loài tôm, cua, ếch, cá…

Tôm khe có càng to, vỏ mỏng, thường từ trong vách đá ra kiếm ăn vào buổi đêm.

Mỗi buổi đi rừng, vượt suối bắt tôm khe, người Dao ở Đồng Sơn bắt được 2-3kg tôm.

Họ mang ra chợ bán với giá 120-130.000/kg, hoặc mang về cải thiện bữa ăn.

Họ mang ra chợ bán với giá 120-130.000/kg, hoặc mang về cải thiện bữa ăn.

————–0————–0—————-

Lênh đênh bắt cá trên cánh đồng Hậu Giang mùa nước nổi

Nước lũ từ thượng nguồn gây ngập đồng ruộng từ tháng 10 đến tháng 11 tạo nên những cánh đồng bạt ngàn với những nét sinh hoạt đặc trưng của cư dân Hậu Giang.

Nét độc đáo trong mùa nước nổi ở Hậu Giang. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Hậu Giang là một trong những tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của lũ từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Do nằm cuối nguồn sông Hậu, nên mùa lũ ở Hậu Giang thường có muộn hơn các tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp, Long An từ 1 đến 2 tháng. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Bắt cá trên cách đồng mùa nước nổi. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Lợp quay – dụng cụ để bắt cá dưới sông trong mùa nước nổi. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Cánh đồng mùa nước nổi tại xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Đẩy côn bắt cá trên cánh đồng mùa nước nổi. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Sản vật mùa nước nổi. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Giăng lưới bắt cá trong mùa nước nổi. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Nước lũ từ thượng nguồn gây ngập đồng ruộng từ tháng 10 đến tháng 11 nên người dân bỏ hoang tạo nên những cánh đồng bạt ngàn với những nét sinh hoạt đặc trưng của cư dân. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Giăng lưới bắt cá trong mùa nước nổi. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Giăng lưới bắt cá trong mùa nước nổi. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Giăng lưới bắt cá trong mùa nước nổi. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Khi nước mới lấp xấp ruộng, người dân dùng xuồng ba lá đi bắt ốc. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

————-0—————0—————-

đặc sản có “một không hai” ở Điện Biên

Tiết canh rừng

Tiết canh rừng là món đặc sản riêng có ở bản Mường Luân, Điện Biên. Chỉ với nguyên liệu là lá cây bơ mó cùng một số loại gia vị, người dân tộc Lào đã khéo léo làm nên món ăn gây tò mò, kích thích vị giác của du khách.

Cây bơ mó là một loại cây rừng khá dễ kiếm, thường mọc vào mùa nóng. Cây có thân dây leo, lá màu xanh nhạt, phát triển rộ từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm. Sau khi hái lá bơ mó đem về, người ta thường mang đi rửa sạch, giã nhuyễn, pha với nước và vắt bỏ bã để có một hỗn hợp đặc, sền sệt màu xanh.

Tiết canh rừng gây tò mò cho nhiều người.

Tiết canh rừng gây tò mò cho nhiều người.

Tiếp đó, hỗn hợp này được trộn với các loại nguyên liệu khác gồm hành, tỏi, ớt, lá chanh, lạc rang, rau thơm… Để trong khoảng 5 phút, món ăn sẽ chuyển sang màu xanh thẫm và kết đông lại, có thể thưởng thức ngay lập tức.

Nghe có vẻ đơn giản, nhưng ít ai biết rằng, tiết canh rừng đòi hỏi người chế biến phải nhanh tay, có kinh nghiệm để xác định chính xác lượng nước, trộn các nguyên liệu đi kèm cho phù hợp thì món ăn mới đông được.

Tiết canh rừng có vị ngọt, thanh mát của lá cây, hòa quyện với đó là mùi thơm của các loại gia vị, rau thơm khá dễ ăn. Người dân tộc Lào thường thưởng thức tiết canh rừng trong các bữa cơm hàng ngày, thậm chí đem dâng lên mâm cỗ cúng tổ tiên.

Hoa ban

Hoa ban là sản vật của núi rừng và là linh hồn của Tây Bắc. Không chỉ tô điểm cho đất trời, hoa ban còn góp phần làm phong phú cho văn hóa ẩm thực vùng cao, khiến bao người say mê với những món ăn thơm ngon, thanh sạch.

Hoa ban khoe sắc giữa đất trời Điện Biên.

Hoa ban khoe sắc giữa đất trời Điện Biên.

Mùa xuân, khi hoa ban nở kín núi rừng, các cô, các chị lại tranh thủ đem gùi đi hái búp hoa. Họ nhặt lấy cánh và nhụy ban, đem rửa nhẹ nhàng rồi trần qua nước nóng, cuối cùng là vò nát hoa để nấu thành nhiều món ăn khác nhau.

Nào là bát canh hoa ban thanh khiết, đĩa hoa ban nhồi cá nướng dậy mùi hấp dẫn… Ngoài ra, khi nấu xôi, người Tây Bắc thường cho thêm hoa ban vào đồ cùng. Miếng xôi ban ngọt dịu, thơm bùi, chấm cùng chẩm chéo thì không gì có thể sánh bằng.

Hoa ban có thể chế biến thành vô vàn những món ăn quyến rũ, níu lấy lòng người.

Hoa ban có thể chế biến thành vô vàn những món ăn quyến rũ, níu lấy lòng người.

Nộm hoa ban là món ăn cầu kì và ngon miệng, thể hiện sự tỉ mỉ của người vùng cao. Ban được trần nước sôi rồi trộn với các gia vị như vỏ dổi, ớt, hạt tiêu, mắc khén… Thêm vào đó, để món ăn đảm bảo độ béo ngậy thì không thể thiếu thịt cá suối nướng. Tất cả các nguyên liệu được đảo đều với nhau, chờ chừng 20 phút cho ngấm gia vị là dùng được.

Nộm hoa ban là món ăn có sự hòa quyện của nhiều vị chua, cay, mặn, đắng, ngọt, bùi, kích thích vị giác. Ngày xuân, khi đã chán ngán những món ăn béo ngậy, nộm hoa ban trở thành món ngon giải ngấy mang đậm hương vị núi rừng.

Rêu đá

Rêu vốn dĩ là 1 loại thủy sinh, nhưng với người dân tộc Tày, Thái, Mông, Mường… rêu đá là một nét văn hóa đặc sắc trong văn hóa ẩm thực. Đây là một món ăn vừa ngon, vừa bổ, lại có hương vị rất riêng.

Hái rêu đã là công việc vất vả, nhưng đập rêu còn đòi hỏi sự khéo léo và cầu kỳ không kém. Sau khi vớt rêu lên, người ta để lên thớt hoặc một hòn đá tảng to có mặt phẳng và đập cho rong rêu bong ra các tạp chất. Phải đập sao cho khéo để rêu không bị nát, dễ mất chất dinh dưỡng và màu xanh tự nhiên. Sau khi được vò đập thật kỹ cho sạch nhớt phù sa, rêu có thể chế biến thành nhiều món.

Rêu được vớt từ suối lên.

Rêu được vớt từ suối lên.

Nếu thực khách muốn thưởng thức món canh rêu tươi, người Tày sẽ đem rêu nấu với xương hầm hoặc nước luộc gà, cho mắm muối và các gia vị rồi ăn nóng. Với món nộm rêu, người ta thường lấy rêu non, đồ cho chín rồi trộn cùng súp, mì chính và các gia vị. Nhưng độc đáo và được ưa chuộng nhất, chắc chắn phải kể đến món rêu nướng.

Chọn loại rêu dài bằng ngón tay trộn cùng muối, ớt, rau mùi, hành, sả, mắc khén rồi đem bọc trong lá chuối đã được hơ nóng cho mềm và tránh rách. Cuối cùng, người chế biến chỉ cần nướng trên than hồng cho tới khi xém lớp lá bên ngoài.

Sau khi nướng, rêu đá trở nên mỏng tang, giòn, và vô cùng thơm ngon.

Sau khi nướng, rêu đá trở nên mỏng tang, giòn, và vô cùng thơm ngon.

Theo kinh nghiệm dân gian, rêu nướng còn có khả năng chữa nhiều bệnh, giúp lưu thông khí huyết, giải độc, giải nhiệt, ổn định huyết áp và tăng cường sức đề kháng.

Bắp cải cuốn nhót xanh

Nhiều du khách truyền tai nhau rằng, lên Điện Biên phải tìm bằng được món bắp cải cuốn nhót xanh chấm cùng chẩm chéo.

Thực khách có thể thưởng thức bắp cải cuốn nhót xanh như món ăn chơi thú vị.

Thực khách có thể thưởng thức bắp cải cuốn nhót xanh như món ăn chơi thú vị.

Đầu tiên, phải chọn những chùm nhót xanh vừa thành quả chưa lâu. Quả nhót phải xanh mướt, hơi mềm, chưa mọng nước, chua rôn rốt và cũng thoảng qua vị chát. Tiếp đến, bắp cải cũng phải là những lá vừa tầm, không già, không non quá. Sau cùng, chỉ cần thêm ít tỏi, lá rau mùi và gừng thái lát nữa là được.

Khi ăn, thực khách đặt các nguyên liệu vào trong lá bắp cải rồi cuốn và khẽ chấm vào bát chẩm chéo, vừa ăn vừa râm ran chuyện trên trời dưới biển. Món ăn chơi này là sự tổng hòa của các vị chua, cay, mặn, ngọt.

————-0————–0—————-

đặc sản “thủy quái” biển Đông ở Quảng Bình

Cá nghéo là một loại cá rất hiếm gặp trên thị trường và cũng không được nhiều người biết đến. Trong ngôn ngữ của ngư dân ở một số vùng biển miền Trung, cá nghéo dùng để chỉ loài cá nhám voi, thịt nạc mà rất ít mỡ.

Thực chất, cá nghéo là một loại cá xương sụn, da nhám, có họ hàng với cá mập. Chúng không đẻ trứng như các loài cá khác mà đẻ con. Trên thế giới hiện nay, cá nghéo là một trong những loài có kích thước khổng lồ khi trưởng thành, nhưng chúng hoàn toàn không gây nguy hiểm cho con người vì chỉ ăn sinh vật phù du, cá, mực, tảo biển.

Cá nghéo là đặc sản đặc trưng của tỉnh Quảng Bình. (Ảnh: Internet)

Cá nghéo là đặc sản đặc trưng của tỉnh Quảng Bình. (Ảnh: Internet)

Tại Quảng Bình, cá nghéo được coi là đặc sản thuộc vào loại hiếm. Bởi khó có thể đánh bắt được chúng nên thường ngư dân chỉ dùng để nấu cháo, ăn lẩu, thết đãi bạn bè hay tiếp khách quý. Du khách nào may mắn lắm mới được thưởng thức món ăn này một lần.

Cũng chính vì thuộc loài da nhám nên thịt cá nghéo khá tanh. Để có thể chế biến và khử mùi tanh của chúng, người ta phải ngâm cá vào nước sôi rồi cạo da. Tuy nhiên, không được ngâm quá lâu và cạo quá mạnh tay, tránh làm lớp da cá bị bong. Ngư dân cho rằng, lớp da là một trong những phần ngon nhất của loài cá này.

Cá nghéo ngon nhất là con nặng cỡ 1-2 kg. Cách chế biến cá nghéo cũng khá đa dạng. Với món khai vị, đầu bếp có thể làm gỏi. Mùi thơm của các loại rau sống cộng với chút vị nồng của cá khiến cho món khai vị trở nên độc đáo và hấp dẫn hơn hẳn.

Thịt cá nạc, ít mỡ nên được nhiều người ưa chuộng. (Ảnh: Internet)

Thịt cá nạc, ít mỡ nên được nhiều người ưa chuộng. (Ảnh: Internet)

Với món chính, cá nghéo có thể đem kho với nghệ, gừng hoặc mật ong, có tác dụng rất tốt cho sức khỏe. Phổ biến hơn cả, người ta thường lọc thịt cá nghéo để nấu lẩu. Phần đầu, xương, lòng cá được để riêng, kết hợp với dứa, cà chua và chế biến nước dùng

Thịt cá đem thái mỏng, ướp gia vị và mắm muối cho đậm đà khoảng nửa giờ. Khi ăn, thực khách chỉ cần nhúng cá vào nước lẩu, nhúng tái rồi cuốn với bánh tráng, rau sống, chấm nước mắm ớt tỏi nhâm nhi cùng rượu. Thịt cá nghéo thơm, săn chắc như thịt bò chứ không mềm như các loại cá khác.

Thế nhưng món ăn ngon nhất, nhất thiết phải kể đến cá nghéo bao tử. Cứ đến mùa cá nghéo sinh đẻ, nhiều người lại tìm kiếm đặc sản này tại các cửa hàng ở Quảng Bình. Mỗi cá mẹ có ít nhất 2 cá con, nhiều nhất có thể lên đến 9 hoặc 10 cá con trong bụng. Những ngư dân quen với nghề có thể nhìn bụng cá mẹ mà đoán số lượng cá con có trong đó.

Cá có thể được chế biến thành nhiều món, nhưng được săn lùng nhiều nhất vẫn là cá nghéo bao tử. (Ảnh: Internet)

Cá có thể được chế biến thành nhiều món, nhưng được săn lùng nhiều nhất vẫn là cá nghéo bao tử. (Ảnh: Internet)

Cá nghéo lúc mang thai được khéo léo mổ phần bụng, lấy ra bọc cá con rồi rửa nhẹ nhàng với muối. Khi rửa, người làm phải thật chú ý để tránh làm vỡ. Cá nghéo bao tử có thể đem nấu cháo. Khi cháo vừa chín, thả bọc cá đã được làm sạch vào nồi hầm cho thật kĩ, nêm gia vị vừa đủ. Cháo cá nghéo vừa chín, mùi thơm quyện với mùi hành, ăn vừa bổ, vừa ngon, khiến thực khách khó có thể chối từ.

Vì cá nghéo có giá trị dinh dưỡng rất cao nên cũng có thể coi là món ăn tẩm bổ đối với người bệnh. Người ta có thể nấu cháo hoặc kho cùng nghệ là có thể tạo ra một món ăn bổ dưỡng, điều hòa âm dương. Thêm nữa, cá nghéo không quá đắt nên có thể dùng được cho tất cả mọi người.

—————0————–0—————-

đặc sản Tây Bắc

Muồm muỗm

Cứ vào thời điểm lúa ngoài đồng chín rộ, người dân Yên Bái lại rủ nhau đi bắt muồm muỗm. Để bắt được những con đậu tít trên cao, người ta phải dùng đến chiếc sào tự chế đặc biệt. Thoạt trông, loài vật này có vẻ giống con cào cào, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy mình nó thon, cánh nhỏ gọn hơn nhiều.

Đặc sản muồm muỗm lừng danh ở Yên Bái.

Đặc sản muồm muỗm lừng danh ở Yên Bái.

Khâu sơ chế muồm muỗm không hề đơn giản, nhất thiết phải trải qua đủ 4 bước: vặt cánh, bẻ chân, ngắt đầu, rút ruột. Đối với thực khách và cả người dân bản địa, muồm muỗm rang giòn hoặc nướng chín vẫn là những món ăn được được ưa chuộng nhất.

Khi chín, muồm muỗm sẽ chuyển thành màu vàng sậm, toàn thân căng bóng. Hương thơm hấp dẫn tỏa ra từ món ăn sẽ đánh thức vị giác, cuốn hút cả người lớn, trẻ nhỏ và những người chưa từng ăn muồm muỗm bao giờ. Ngay từ miếng đầu tiên, thực khách sẽ “chết mê” với vị ngọt, bùi bùi, béo ngậy mà không thấy ngấy.

Bọ xít rừng

Cho dù có là người ưa thích các món ăn từ côn trùng, nhưng khi nhìn thấy đĩa bọ xít, chắc hẳn thực khách vẫn phải chần chừ vì nhớ đến thứ mùi đáng sợ trên cơ thể nó.

Bọ xít rừng tuy có mùi hôi hơn nhiều so với bọ xít thông thường nhưng lại hiếm, ngon và bổ hơn nên được bán với giá khá cao. Loài côn trùng này sống rải rác ở khắp nơi, thậm chí làm tổ ngay trong những hốc đá.

Không phải thực khách nào cũng dám thử bọ xít.

Không phải thực khách nào cũng dám thử bọ xít.

Sau khi đem về, bọ xít sẽ được khử mùi bằng cách đem thả vào nước muối loãng một lượt cho phun bớt tuyến hôi. Tiếp đó, người ta ngâm và rửa sạch chúng trong nước măng chua. Đến công đoạn chế biến, bọ xít được rang lên vàng ruộm, bày ra đĩa cùng với lá chanh thái nhỏ.

Lúc này, mùi hôi đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là hương vị đặc trưng của bọ xít rang và mùi thơm nồng nhẹ của lá chanh.

Thịt thối

Có lẽ chỉ cần nghe đến tên, nhiều người đã phải nhăn mặt, vội từ chối món ăn kì lạ này. Nhưng ít ai biết rằng, thịt thối được xếp vào hàng “tứ đại đặc sản” của người đồng bào dân tộc Thái mạn Mường La (Sơn La).

Một trong “tứ đại đặc sản” Sơn La.

Một trong “tứ đại đặc sản” Sơn La.

Món này được chế biến bằng cách: lợn hoặc bò sau khi được xẻ thịt sẽ chọn những phần ngon nhất đem phơi nắng. Qua một vài nắng, miếng thịt tự nhiên khô lại rồi tiếp tục được tẩm với nước của một loại rau thơm cho ngấm vào bên trong, sau đó đem bỏ vào chum ủ kín và rắc lên một ít muối.

Vì không được ướp với nhiều muối nên thịt sẽ phân huỷ, phần thịt ngon bị chín bởi ánh nắng sẽ không tan mà đóng cục. Khi công đoạn ủ kéo dài khoảng 10 ngày, người ta mở ra và cho vào đó một ít thảo dược. Nếu có khách quý, món thịt thối sẽ được lấy ra nấu chín cùng rêu suối, cơm nguội và ăn kèm với lá sung.

Sâu tre

Sâu tre (hay sâu măng) được coi là đặc sản của người Thái ở Tây Bắc. Vào mùa lạnh, khi những cơn mưa mang không khí ẩm ướt đến núi rừng thì nhiều người bắt đầu mang gùi vào rừng đi bắt sâu. Sâu tre to như cọng rau muống, màu trắng sữa, dài độ 2 đốt ngón tay.

Đĩa sâu tre vàng óng, dậy mùi hấp dẫn.

Đĩa sâu tre vàng óng, dậy mùi hấp dẫn.

Từ sâu tre có thể làm ra nhiều món ngon, nhưng ngon nhất vẫn là xào lá chanh. Đĩa sâu tre vàng tươi, có mùi thơm rất hấp dẫn nhưng không phải ai cũng can đảm để đưa lên miệng thử.

Sâu tre là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao mà chỉ những vị khách may mắn mới được thết đãi. Ngoài ra, sâu tre còn được người dân lựa chọn làm nguyên liệu ngâm rượu, sau khoảng một tháng là có thể đem ra sử dụng.

Lá ngón

Từ muôn đời nay, ai cũng biết lá ngón là một thứ cực độc. Ấy thế nhưng ở Mường So (Lai Châu), người ta trồng lá ngón ngay trong vườn nhà để dùng như một món khoái khẩu, thậm chí là đặc sản không thể thiếu trên mâm cỗ ngày Tết.

Khi đem lá ngón độc so sánh với loại lá ngón đặc sản, người ta thấy rằng cây lá ngón ăn được cũng có thân leo, nhưng lá của nó tròn và ngắn hơn, bản lá to như bàn tay. Thêm nữa, cây lá ngón độc thường nở hoa trong khoảng thời gian từ tháng 6 tới tháng 10, còn cây lá ngón ăn được lại nở hoa vào dịp gần Tết Nguyên đán.

Lá ngón xào tỏi – món ăn cực “độc” ở Mường So.

Lá ngón xào tỏi – món ăn cực “độc” ở Mường So.

Người Thái trắng ở Mường So dùng lá và hoa của cây này để luộc, nấu canh hoặc làm các món xào thay rau rừng. Thực khách lần đầu ngồi trước đĩa lá ngón sẽ không tránh khỏi cảm giác rờn rợn. Nhưng sau khi đưa vào miệng, miếng lá ngón xào lại trở thành thứ đưa đẩy khiến mâm cơm có sức hấp dẫn lạ kỳ.

Trong lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu (lễ hội ẩm thực) của người Thái Mường So ngày xuân thì chắc chắn phải có lá ngón. Đây là dịp để người dân tạ ơn thần linh, ông bà, tổ tiên đã ban phúc cho một vụ mùa bội thu.

Đăng tải tại Ẩm Thực | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những kết thúc bất ngờ?

Tiểu Hồng rất xinh, thầy chủ nhiệm và các bạn trai lúc nào cũng táy máy trêu cô bé.
Cả lớp ai cũng ghét cô, trừ Tiểu Minh.
Ngày nào cậu cũng mua đồ ăn cho cô, thu dọn đống sách vở của cô bị các bạn trong lớp ném. Tiểu Hồng không mảy may xúc động nhưng Tiểu Minh vẫn thích cô.
Có một ngày, Tiểu Hồng bị người ta sát hại, bị hung thủ xiết cổ chết. Tiểu Minh vô cùng đau đớn trước cái chết của cô. Sự việc này đã trở thành một bóng ma trong lòng cậu, cậu quyết định đào một ngôi mộ thật lớn để an táng cho cô.
.
.
.
Vấn đề của chúng ta đã xuất hiện rồi đây!! Xin hỏi đi thuê máy đào đất thì thuê nhà nào mạnh hơn?

——————-0————0———————

Ngày xửa ngày xưa, có một phú ông, trước khi lâm chung, ông gọi hai người con lại và nói: “Hai con đi đốn củi đi, xem ai đốn được nhiều củi hơn, nhanh hơn.”
Trời vừa tảng sáng, người con cả đã vác rìu lên núi đốn củi, người con thứ lại mài lưỡi rìu thật sắc rồi mới đi.
Tối đến, quả nhiên, người con thứ đốn được nhiều củi hơn.
.
.
.
Phú ông nhìn nhìn rồi nói với hai người: “Gia sản để lại cho cậu cả đi, dù sao cậu hai cũng giỏi giang như thếthì lo gì!”

————–0————-0—————-

Vào ngày sinh nhật của cô gái, chàng trai che mắt cô gái, rồi nói: “Cưng à, đi theo anh nào.”
Đi suốt nửa tiếng đồng hồ, chàng trai mới nói tiếp: “Nào, giờ thì mở mắt ra.”
Cô gái nhìn mọi cảnh vật xa lạ hoang vắng xung quanh, cõi lòng tràn đầy chờ mong: “Rồi sao anh?”
Chàng trai không trả lời, chỉ rút một con iPhone 6 ra đưa cho cô gái.
Cô gái kích động kêu lên: “Yêu anh chết mất, món quà này tuyệt quá!”
.
.
.
Chàng trai lạnh lùng: “Gọi điện cho bố mẹ em, nói em nằm trong tay tôi.”

—————-0—————0——————-

Sắp tốt nghiệp đại học, thích nhau 4 năm, lại chưa từng cho nhau một câu hứa hẹn. Trên chuyến tàu trở về nhà, anh phải qua 32 ga, còn cô là 21 ga, cô buồn bã nói: “Bao giờ tới ga thì kêu em dậy nhé!”, nói xong liền ngủ thiếp đi.
Không biết qua bao lâu, cô được gọi dậy, tàu đã quá mấy ga.
Cô quay đầu lại, anh cười dịu dàng: “Theo anh về nhé!”
Cô bật cười mà nước mắt rơi.
.
.
.
Sau khi đi vào sâu trong xóm núi nhỏ, nơi anh sinh ra và lớn lên, cô bị bán cho một ông già ế vợ hơn 50 tuổi.

—————–0—————–0———————-

Trên xe bus, Mẹo thấy có tên móc ví của một người phụ nữ.
Mẹo nhanh trí kêu lên: “Mẹ ơi, ví của mẹ bị rơi, chú kia nhặt giúp mẹ kìa.” Tên móc ví xấu hổ, cười cười rồi trả lại ví cho người phụ nữ.
Lúc xuống xe, người phụ nữ kia một mực kéo Mẹo xuống, Mẹo giãy dụa nói: “Cô này không phải mẹ cháu!”
Các hành khách khác cười xòa: “Nhóc con này lại nghịch ngợm rồi!”.
.
.
.
Kết quả Mẹo bị bán tới mỏ đào than.

—————-0—————–0———————

Trên một chuyến tàu, có một tên buôn lậu nước hoa và một nhà sư ngồi cùng toa. Chợt có cảnh sát kinh tế lên kiểm tra hàng lậu. Tên buôn lậu năn nỉ nhà sư:

– Thầy là người tu hành người ta không khám đâu, xin giấu hộ con lọ xịt nước hoa Woman vào thắt lưng với, nếu họ hỏi thầy thì đừng nói nhé!

Vì thương người nên nhà sư đồng ý. Người cảnh sát khám đồ tất cả mọi người, cuối cùng anh ta hỏi nhà sư:

– Thầy có gì lậu không?

Vốn tính thật thà, nhưng đã chót hứa với tên buôn lậu nên nhà sư trả lời nước đôi:

– Bên trên thắt lưng thì không có gì. Nhưng dưới thắt lưng một chút có một vật dài gần 20 phân, tròn và hơi cứng, mà phụ nữ rất thích!

————–0—————0——————

Các bạn ơi, hôm qua mình lượm được 1 chiếc ví, tuy ví đã cũ ko còn giá trị nhưng trong đó có 20 tờ 500.000 được buộc lại bằng sợ dây thun màu vàng và đỏ.
Ngoài ra trong ví không có 1 thứ gì khác.
Vậy bạn nào đánh rơi ví và số tiền của mình trong đó thì liên hệ với mình
.
.
.
để nhận lại 2 sợi dây thun vàng và đỏ nhé!

—————–0————–0——————–

Trên một chuyến tàu vượt Đại Tây Dương.
Một cô gái xinh đẹp viết trong nhật ký.
Ngày thứ 1: Biển đẹp, con tàu rất lớn và thuyền trưởng cực kì đẹp trai.
Ngày thứ 2: Thuyền trưởng đã tỏ tình, dọa sẽ làm đắm tàu nếu mình từ chối làm bạn với anh ấy đêm nay.
.
.
.
Ngày thứ 3: Mình đã cứu con tàu cùng 1.300 hành khách!

——————0——————-0——————–

Trước khi đi công tác, một anh chàng bí mật nhờ bà cụ hàng xóm trông nom cô vợ trẻ.

Anh ta dặn nếu thấy chuyện gì khác thường thì báo ngay cho anh ta.

Một tuần trôi qua êm ả.

Đầu tuần sau, anh ta nhận được điện thoại của bà cụ hàng xóm:

– Người đàn ông vẫn thường đến thăm vợ anh vào ban đêm, hôm qua không thấy đến.

—————0—————0—————

Hai vợ chồng Tèo mới cưới nhau vài ngày đã cãi nhau ỏm tỏi. Vợ Tèo khóc lóc nói:​

– Anh là đồ dối trá, sao trước khi lấy tôi anh bảo trong tài khoản của anh có mấy chục tỷ mà. Nhìn xem bây giờ đến tiền đóng tiền nhà cũng không có một đồng.​

Tèo thanh minh:

– Anh có nói sai đâu, tài khoản anh có mấy chục tỷ thật mà. Chỉ là anh quên mật khẩu nên không rút ra được thôi. Giờ mỗi ngày anh vẫn đang mò mật khẩu đây.

Vợ Tèo tức tưởi đáp:

– Anh đừng có nói dối nữa, có giỏi thì chứng minh cho tôi thấy đi.

Tèo móc từ túi áo ra một xấp vé số quăng xuống bàn:

– Đây, mật khẩu này, chừng nào anh đoán đúng có khi lấy được cả trăm tỷ cho em xem.

—————-0————–0————-

Sau bao năm mải mê lập nghiệp, cuối cùng cũng đến thời điểm Tồ muốn xây dựng một gia đình nhỏ cho riêng mình.​

Tuy vậy, anh không thể mường tượng được đời sống hôn nhân thật sự như thế nào nên bèn tìm đến hỏi bố:​

– Đàn ông sao khi cưới vợ thì cảm giác như thế nào bố nhỉ?

Bố Tồ chậm rãi nói:

– Con lấy điện thoại ra đi, vào danh sách bài hát chọn một bài mà con thích nghe nhất ấy.

Dù không hiểu lắm nhưng Tồ vẫn răm rắp làm theo. Sau đó anh hỏi:

– Rồi sao nữa bố?

Bố Tồ vẫn chậm rãi:

– Con xóa hết tất cả các bài hát khác đi, chỉ chừa lại duy nhất bài hát con đã chọn thôi.

Tồ ngạc nhiên:

– Chuyện này thì liên quan gì đến việc con lấy vợ hả bố?

Bố Tồ nhẹ nhàng khoác vai con trai:

– Con cứ thử tưởng tượng suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời, con chỉ được nghe đúng một bản nhạc ấy đi. Bố tin là con sẽ hiểu, con trai ạ.

– !?!​

—————0—————0—————–

Một bà vợ đòi ly dị chồng vì anh ta suốt ngày uống rượu. Quan tòa hỏi:
– Chồng bà bắt đầu uống rượu từ khi nào?
– Từ trước khi chúng tôi cưới nhau.
– Thế sao lúc đó bà vẫn quyết định cưới ông ấy?
– Vì lúc đó tôi nghĩ chắc hẳn anh ta phải có rất nhiều tiền nên mới uống rượu mỗi ngày như thế.

————–0————–0————-

Nhà nọ có hai vợ chồng, chẳng may bà vợ bị chết sớm, sau khi tang lễ được tiến hành tại nhà, những người phu khuân hòm khiêng quan tài đi ra nghĩa trang.

Trên đường đi, họ đã vô tình để quan tài đụng vào tường. Sau đó họ nghe thấy một tiếng rên yếu ớt phát ra từ trong quan tài, họ mở nó ra và nhận thấy bà vợ đã sống lại.

Bà vợ sống được thêm mười năm nữa rồi qua đời. Buổi lễ tang cũng diễn ra như lần trước và khi những phu khuân hòm đang chuẩn bị khiêng quan tài đi, ông chồng khóc thét lên:

– Coi chừng cái bức tường đó.

————0————-0————-

Hai nhân viên phục vụ của một công ty gas, một người lớn tuổi và một người còn trẻ, đang đi kiểm tra ở một vùng ngoại ô.
Họ đậu xe ở cuối đường và đi bộ tới từng căn nhà. Sau khi kiểm tra đường ống dẫn gas ở ngôi nhà cuối cùng xong, người nhân viên lớn tuổi đề nghị một cuộc chạy đua về chỗ đậu xe để chứng minh ông có thể chạy nhanh hơn chàng trai trẻ kia.
Trong khi đang chạy hết tốc lực tới chiếc xe, họ nhận thấy người đàn bà trong ngôi nhà họ mới vừa ra khỏi đang hộc tốc chạy theo sau họ vừa thở vừa la. Họ dừng lại và hỏi:
– Có chuyện gì thế thưa bà?
– Chúa ơi, tôi cũng đang tự hỏi chuyện gì sắp xảy ra. Khi tôi thấy hai anh chạy bán mạng như vậy thì tôi nghĩ rằng, tốt nhất tôi cũng nên chạy theo!

————-0————0————–

Hôm vừa rồi khi lấy vé ở nhà ga, một ông chú già đằng sau nói : “học hành làm chó gì, sinh viên rồi cũng đến làm công cho tao thôi.”

Vì thế, lấy phiếu xong, tôi lẳng lặng cài lại ngôn ngữ mặc định của máy bán vé là tiếng Anh

———–0————0————

Anh chàng hết tiền liền nhắn tin cho bạn thân: “Mày làm gì đấy? Mua cho tao cái thẻ!”

Thằng bạn ngay lập tức nhắn tin lại:

– Mã thẻ này nạp đi! Tao nạp thử rồi! Được đấy!

————–0————-0————–

Có lần tôi bảo một đứa bé ra nhảy múa, nó nhỏ giọng nói “Cháu không biết”.

Tôi nói “Con trai phải tự tin lên, to gan lên một chút”.

Thế nó nó vênh mặt gào to một câu: “Bố mày không biết!

————–0—————0————–

Tôi đứng xem mấy ông cụ dưới nhà chơi cờ một lát rồi nói: “Ông ơi, ông mất xe rồi.”

Mặt ông cụ đầy vẻ khinh thường: “Bạn nhỏ, cái này gọi là cờ.”

Sau đó, tôi im lặng xem hơn 2 tiếng, đánh cờ xong mọi người đứng dậy ra về, tôi mới nói: “Ông ơi, vừa rồi cháu không nói cờ của ông, cháu nói là “cờ đạp” của ông bị người ta lấy mất rồi.”

————0————–0—————–

Tối về nhà muộn, trên con đường hoang vắng có một bóng đen xồ ra dí dao vào người tôi: “Cướp đây.”

Tôi nhanh trí nói: “Con dao của anh không tồi, tôi lấy Iphone 6s plus hồng vàng ra đổi được không?”

Không ngờ hắn ta đồng ý.

Tôi thông minh biết chừng nào, đến khi cầm lấy con dao kia, tôi lại quát to: “Đừng nhúc nhích, cướp đây.”

Tên cướp sửng sốt một chút, rồi… lẳng lặng móc súng ra.

————–0—————-0——————

Hôm nay ngồi xe khách đường dài đi công tác, khi mọi người đang lắc lư buồn ngủ, một cô gái nghe điện thoại:
“Alo, em đang ngủ. Em ngủ trên xe! Mẹ kiếp lại còn ngủ với ai. Tôi ngủ với cả một xe đàn ông đấy!”

————–0————–0————–

Sau khi chính sách sinh con thứ 2 được thông qua, có một hôm, cậu học trò nọ phạm lỗi trong lớp.
Thầy giáo yêu cầu mời phụ huynh tới, học trò nói bố mẹ không ở nhà, hỏi thầy là được mời Cậu ruột đến có được không?
Thầy giáo bảo được.
Hôm sau, cậu ta cõng cậu út mới vừa tròn một tuổi trên lưng chạy đến trường học.
Đến trường, cậu ta đặt cậu út lên bàn của thầy giáo, giật lấy kẹo mút của thằng bé, nhân tiện lau nước mũi cho thằng bé rồi nghiêm mặt nói: “Cậu, đừng tham ăn thế. Thầy của cháu muốn nói chuyện với cậu.”

—————0—————-0—————-

Bạn tôi kể vợ cậu ta cực kỳ lười.
Tôi hỏi làm sao, cậu ta kể nhà cậu ta ở trên tầng 3, mỗi lần vợ cậu ấy mua đồ trên mạng đều viết ghi chú là: “Phụ nữ có thai, không tiện đi lại, xin đưa hàng tới tận cửa!”
Mấy ngày trước, anh chàng chuyển hàng không nhịn được nữa liền gào ầm lên ở dưới nhà: “3 năm! Tôi nhịn cô 3 năm rồi đấy! Cô mang thai Na Tra à?!”

—————0—————-0——————

Hồi học trung học, mọi người trong lớp nghịch ngợm, bàn bạc với nhau chờ cô giáo đến thì cùng hô Lão phật gia cát tường, nếu cô không bảo bình thân thì không ngồi xuống. Cô vào lớp, lớp trưởng đứng dậy, chúng tôi hô điếc cả tai “Lão phật gia cát tường”… Ai ngờ có ba thằng lén đi hút thuốc vào muộn, thấy cô giáo đang sững sờ liền phất phất cổ tay áo, quỳ xuống hô to: “Chúng thần cứu giá chậm trễ, xin lão phật gia thứ tội…

————–0————0————–

Hôm đó tôi và bạn gái cùng đi tàu điện ngầm, tôi không cẩn thận đạp vào chân một người đàn ông, vừa nói xin lỗi không ngờ anh ta lại nói mắt mù à? Tôi mới đẩy anh ta một cái, anh ta cũng đẩy tôi. Ngay khi đang đẩy qua đẩy lại, bạn gái tôi lại òa khóc ôm chặt lấy tôi bảo: Anh đã hứa với em sẽ không giết người nữa cơ mà? Mọi người có thể tưởng tượng ra vẻ mặt hoảng sợ của mọi người trên xe và cảnh thằng nhóc kia sợ nhũn cả chân không? Có người bạn gái như vậy, tôi cũng say ngất ngây rồi.

—————0————–0——————

Đi ngân hàng rút tiền, dừng xe bên ngoài còn dặn thằng bạn là nếu có người đến phạt xe thì nhớ báo cho tôi biết một tiếng.

Quả nhiên vừa vào được vài phút đã có cảnh sát giao thông đến. Thằng bạn kia xông vào trong ngân hàng gào ầm lên: “Đại ca, cảnh sát đến, chạy mau!!!”

Mẹ nó chứ, cả một cái đại sảnh to mấy chục con người lập tức yên lặng không một tiếng động, sau đó cả đám đông ùn ùn chen nhau chạy ra khỏi ngân hàng như lũ quét.

Tôi bị 5,6 nhân viên bảo vệ ấn xuống đất… Con mẹ nó oan chết đi được, đúng là không sợ đối thủ giỏi như thần, chỉ sợ đồng đội ngu như lợn

Đăng tải tại Truyện Cười | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 2.

Từ ngày 28/11, khoảng 200 công nhân Cty cấp thoát nước Hà Nội bắt đầu tiến hành việc nạo vét Hồ Gươm với kinh phí khoảng 30 tỷ.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 3.

Có khoảng 30 xe bồn chở bùn đất được huy động để phục vụ quá trình nạo vét. Nhân viên công ty ứng trực phân luồng giao thông 24/24 để tránh ách tắc giao thông.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 4.

5 đội công nhân thay phiên nhau làm việc liên tục, mỗi đội có khoảng 20 người thực hiện nạo vét ở khu vực gần bờ.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 5.

Những công nhân này sẽ dùng xẻng xúc bùn vào từng xô để chuyển lên bờ.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 6.

Theo Cty cấp thoát nước Hà Nội, trong đợt nạo vét này dự tính sẽ di chuyển 57.000 m3 bùn ra khỏi Hồ Gươm.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 7.

Ở khu vực xa bờ hai máy xúc chuyên dụng được sử dụng để múc vào máy chuyển theo đường ống trực tiếp lên xe bồn.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 8.

Trước đó, lực lượng bơi thuyền giăng lưới xung quanh khu vực nạo vét để đảm bảo sinh vật trong hồ không bị múc đi theo bùn.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 9.

Bùn múc ở giữa hồ được chuyển trực tiếp bằng máy lên xe bồn, trên xe bồn có công nhân giám sát.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 10.

Bùn ở ven hồ sẽ được đưa vào xe đẩy sau đó di chuyển ra xe bồn để nhân việc thực hiện thao tác đưa bùn vào xe.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 11.

Dự kiến, việc nạo vét Hồ Gươm sẽ hoàn thành trước Tết âm lịch.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 12.

Có nhiều công nhân nữ làm việc thâu đêm.

200 công nhân nạo vét, làm sạch Hồ Gươm xuyên đêm - Ảnh 13.

Những người công nhân này uống nước, nghỉ giải lao ngay trên mặt nước để đảm bảo quá trình nạo vét được diễn ra nhanh nhất.

Đăng tải tại Hình Ảnh - Tư Liệu Lịch Sử, Phóng Sự - Ký Sự, Tin Tức | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

An Dương Vương : “Giặc Thục” hay anh hùng bi tráng ?

1.

Phan Bội Châu viết trong cuốn “Việt Nam quốc sử khảo”: “Nước ta, mọi việc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê cứu rõ. Còn kể từ thời Triệu Vũ về sau…” (*).

Tại sao lại gọi An Dương vương Thục Phán là “giặc Thục”, nhất là khi hai chữ “giặc Thục” đi liền với “Triệu Vũ”, họ và vương hiệu của tên giặc đích thực Triệu Đà (Triệu Vũ vương), cách gọi tỏ ý tôn trọng?

Khi đặt vấn đề như thế, không thể không gây nên một tổn thương của người Việt chúng ta. Nhân vật  An Dương vương Thục Phán từ lâu đã trở thành một huyền tượng anh hùng dân tộc kháng chiến chống quân xâm lược của Tần Thuỷ hoàng, chống Triệu Đà xâm chiếm, với bi kịch nước mất nhà tan. Truyền thuyết về An Dương vương và về mối tình đau thương, oan nghiệt Mỵ Châu – Trọng Thuỷ tự bao giờ đã phủ lên những con người có thật ấy một huyền sử với lòng ngưỡng vọng, chiêm nghiệm vừa tự hào, vừa bi thương, chua xót của hậu thế.

Nhưng, ngẫm lại, lạ lùng thay, đồng thời huyền sử cũng khắc sâu vào tâm thức dân tộc Việt Nam một hình tượng khác, hầu như trở thành hình tượng có tính chất cao cả hơn – hình tượng tín ngưỡng –, gắn liền với ý thức cội nguồn nguyên sơ nhất, sâu xa nhất và tự hào nhất. Đó là hình tượng Quốc tổ Hùng vương. Phải chăng trong tâm thức chúng ta tồn tại từ bao giờ một nghịch lí? Không nghịch lí thế nào được khi chính Thục Phán đã tiêu diệt nước Văn Lang do mười tám đời vua Hùng cùng dân tộc Lạc Việt dày công xây dựng, và chính vua Hùng thứ mười tám đã uất hận đến mức thổ huyết rồi gieo mình xuống giếng sâu để tự sát?

Thật ra, trong các bộ chính sử như Đại Việt sử kí toàn thư (1697), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) và trong dã sử, huyền sử của dân gian Việt Nam, mặc dù xác địnhmười tám vị Hùng vương là những huyền tượng lịch sử – tín ngưỡng, nhưng chưa bao giờ có một mảy may nghi ngại về tính chân thực lịch sử bất di bất dịch. Khác với huyền tượng Quốc tổ, chính sử (gồm cả phần huyền sử, chỉ xem là ngoại kỉ) được viết từ triều đại nhà Trần đến nhà Hậu Lê (1697), ngay cả chính sử trong thời Nguyễn từ triều Tự Đức đến Kiến Phúc (1884), vấn đề về An Dương vương không phải không bị các sử gia đặt một dấu hỏi khốc liệt nhất, có thể diễn đạt với ngôn ngữ hiện đại là: An Dương vương, kẻ thù dân tộc hay anh hùng bi tráng của dân tộc? Và Phan Bội Châu đã nhận định thế nào về An Dương vương, chúng ta đã biết. Cụ Phan, một người được sinh ra, lớn lên ở xứ Nghệ, làng quê thuộc huyện Nam Đàn, rất gần với Đền Cuông (Đền Công) thuộc huyện Diễn Châu (nơi An Dương vương đã đến lúc cùng đường, phải tự chính tay mình tử hình “kẻ thù ngồi sau lưng” là Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biển tự sát; An Dương vương, Mỵ Châu đã được nhân dân và các triều đại lập đền thờ ở đấy). Dẫu vậy, nhà yêu nước họ Phan này, trong cuốn sách phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền cổ động cách mạng (thân Nhật), Việt Nam quốc sử khảo (1909), đã quyết liệt định danh: “giặc Thục”! “Giặc Thục”? Quả thật, chưa bao giờ chính sử nước ta trong thời phong kiến lại ghi vào sách sử hai chữ vừa dứt khoát vừa khủng khiếp đến thế, mặc dù chính sử ngày xưa đã có nêu câu hỏi về An Dương vương, và cũng chỉ dám “dĩ nghi truyền nghi”(giữ sự nghi ngại để truyền lại sự nghi ngại [chưa khảo cứu được])? Còn sử học ngày nay vẫn nêu lại vấn đề, và kết luận An Dương vương là nhân vật lịch sử xứng đáng để vinh danh, không kém gì việc vinh danh các vua Hùng dựng nước. Còn phía văn học sử, truyền thuyết An Dương vương lại càng toả sáng. Như thế, phải chăng không còn tồn tại nghịch lí?

 

2.

Cũng như văn học sử, lịch sử chính trị – xã hội của bất kì nước nào trên thế giới cũng gồm có hai phần chính, tương ứng với hai thời kì phát triển chính. Đối với văn, đó là phần dân gian (văn truyền miệng) và phần bác học (văn viết). Đối với sử, đó là phần được gọi bằng đặc trưng của nó, dã sử hay huyền sử, và phần sử thành văn, được ghi chép, bình luận bởi các sử gia. Sử thành văn gồm cả thời có văn tự, trước thời Trần rất xa; ở các giai đoạn về sau, hầu hết là do các sử gia cũng là chứng nhân đương thời ghi chép.

Vấn đề An Dương vương không một ai không khẳng định là thuộc về dã sử hay huyền sử, mặc dù đã vượt qua mức độ thần thoại để đạt tới mức độ truyền thuyết, mặc dù thư tịch cổ Trung Hoa có ghi chép sơ lược. Do đó, cũng như vấn nạn huyền sử của bất kì nước nào, trong đó còn tồn đọng nhiều ức đoán mơ hồ, lung linh rất đẹp nhưng cũng khá gây hiệu ứng nghi ngại!

Sử thần Ngô Sĩ Liên viết: “Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? […] Đến như truyện Mỵ Châu rắclông ngỗng chỉ đường, thì chưa chắc đã có. […] Thế thì việc ma quỷ làm đổ thành cũng đáng tin sao? […] Đến như sử chép An Dương vương bại vong là do nỏ thần bị đổi lẫy, […] đều là mượn lời để cho vật trở thành thiêng mà thôi” (1).

Nhưng vấn đề nghiêm trọng không phải là ở đó. “Giặc Thục”, nhức nhối là ở chỗ này.

Toàn thư ghi rõ: “Cuối thời Hùng vương, vua có con gái gọi là Mỵ Nương, nhan sắc xinh đẹp. Thục vương nghe tiếng, đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu can rằng: ‘Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi’. Thục vương vì chuyện ấy để bụng oán giận”. […] “Mị Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục vương tức giận, dặn lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là Thục Phán có dũng lược, bèn đánh lấy nước”. […] “Quân Thục kéo sát đến nơi, [vua Hùng – ct.] hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết chảy [nhảy? – ct.] xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục vương” (2).

Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884), một bộ sử lớn thứ hai, sau Toàn thư, cũng chép lại sự kiện trên không khác, sau khi đã khảo cứu kĩ lưỡng. Ở phần mục (thuyết, diễn giải) hầu như y hệt, và ngay mấy dòng cương (tiêu đề) lại càng cô đọng thật rõ ràng: “Thục vương Phán đem quân sang xâm. Hùng vương nhảy xuống giếng chết. Nước Văn Lang mất”; ở phầncương kế tiếp: “Thục vương đã lấy được nước Văn Lang, đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê” (3).

Không còn nghi ngờ gì nữa, nước Văn Lang của dân tộc ta, dưới sự thống lĩnh của triều đại Hùng vương có công dựng nước, đã bị xâm lược và bị mất nước vào tay vua nước Thục! Như thế, Thục Phán (An Dương vương) không phải “giặc Thục” là gì!

Vấn đề gây nhiều tranh cãi ấy, thật ra, mấu chốt là ở chỗ “nước Thục”, “vua, họ Thục, huý Phán, người đất Ba Thục” (3). Chính Quốc sử quán triều Nguyễn, trong bản tấu nghị đầu tiên lúc mới nhận chỉ dụ khởi thảo (ngày 10 tháng 6 năm Tự Đức thứ 9 [11. 7. 1856]) cũng cho là:“An Dương vương là người nước ngoài, nhân dịp người ta suy yếu, trước thì cậy sức mạnh kiêm tính nước người…” (4). Tự Đức không khẳng định về khía cạnh đó, nhưng cũng ra chỉ dụ: “… Công việc của An Dương vương cũng chuẩn cho chép vào phụ lục, để tiện khảo cứu đính chính” (5). Tự Đức chỉ nêu lí do: nhà Thục của An Dương vương dẫu không quá ngắn ngủi, nhưng vỏn vẹn mỗi một đời vua duy nhất. Cuối cùng, ở bản Phàm lệ, Quốc sử quán triều Nguyễn xác định không xem An Dương vương là chính thống, mặc dù vẫn gọi là vương như Toàn thư, “duy lúc chết thì chép chữ ‘hoăng’, để phân biệt với triều chính thống” (6). Như vậy, ở Toàn thư (1697), An Dương vương được sử gia nước ta xếp thành một kỉ chính thống,“kỉ nhà Thục” (7), tương đương với “kỉ Hồng Bàng thị” trước đó, các “kỉ nhà Lê”, “kỉ nhà Lý”…sau đó; nhưng ở Cương mục (1884), An Dương vương không còn là chính thống nữa, chỉ là phụ chép mà thôi.

Căn cứ nào để xem là chính thống hay phi chính thống, nếu không xác định rõ là “họ muốn chiếm nước ta” (Toàn thư, sđd.), là “người nước ngoài”, “người đất Ba Thục”, “kéo quân sang xâm” (Cương mục, sđd.), tức là quân xâm lược. Xem rất đơn giản nhưng lại khá rắc rối là ở chỗ, cả Cương mục lẫn Toàn thư đều xác định như thế nhưng lại mâu thuẫn ở cách định danh: chính thống hay phi chính thống. Tại sao có sự rắc rối này?

Trong bài “Việt giám thông khảo tổng luận” (1514) của Lê Tung, được đặt trang trọng ở phần đầu sách Toàn thư (1697), ghi rõ: “An Dương vương, phía tây thì dời sang Ba Thục, phía nam thì diệt vua Hùng vương, đóng đô ở Loa Thành, giữ nước Âu Lạc, nhờ được nỏ móng rùa, đánh lui quân nhà Tần, quen mui đánh thắng, yên vui sinh kiêu, quân Triệu đến đánh mà cõi bờ không giữ được” (8). Xin nhấn mạnh: “đánh lui quân nhà Tần”, vào lúc Tần Thuỷ hoàng còn tại vị, và giết được tướng giặc là Đồ Thư. Đó là một sự nghiệp rất đáng kể. Và phải chăng vì thế, Toàn thư châm chước xếp là chính thống? Tuy nhiên, riêng về chiến công trực tiếp tiêu diệt tên tướng giặc Đồ Thư đó, phải chăng một phần là do sự ngộ nhận về địa danh và địa giới thuộc về địa danh, vốn luôn thay đổi một cách rất rắc rối? Phải chăng người Việt ở xứ Việt khác (tuy cũng thuộc Bách Việt) trực tiếp tiêu diệt được tướng giặc Đồ Thư, chứ chưa hẳn là do người Âu Việt và Lạc Việt nước ta (cũng thuộc Bách Việt)? Ở sự kiện khác, cả Toàn thưlẫn Cương mục đều chép, ngay từ năm Thục An Dương vương thứ 44 (214 tr. c. ng.), khi Nhâm Ngao và Triệu Đà vốn là quan tướng nhà Tần (Trung Hoa) được Tần Thuỷ hoàng cử sang xâm chiếm các vùng đất phương nam, “Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta”(9) và bốn năm sau, “Tân mão, năm thứ 48 (210 tr. c. ng.), (Tần Thuỷ hoàng năm thứ 37). Mùa đông, tháng 10, Tần Thuỷ hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn. Đà đóng quân ở Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy” (9). Lúc này, không còn nghi ngờ gì nữa, An Dương vương đánh thắng Triệu Đà, tức là đánh thắng nhà Tần. Cương mục (1884) cũng chép y hệt như thế, kể cả việc “người Bách Việt bấy giờ đều rủ nhau núp vào trong rừng rậm, không ai chịu để cho người Tần dùng”(10); cùng việc “lại ngầm bầu những người tài giỏi lên làm làm tướng, đánh nhau với người Tần, giết được hiệu uý Đồ Thư” (10) như trên đã nói.

Nhưng cho dù có chiến công đánh bại quân binh nhà Tần (Đà và Ngao) vào năm 210 tr. c. ng. như vậy, hậu thế vẫn có thể đặt lại vấn đề: An Dương vương Thục Phán vẫn là quân xâm lược, vẫn là “giặc Thục”; dẫu đánh thắng Đà và Ngao (đang là quan tướng viễn chinh của nhà Tần), thì cũng chỉ là quân xâm lược đánh thắng quân xâm lược, “giặc Thục” đánh thắng giặc Đà, giặc Ngao (thuộc hạ của giặc Tần Thuỷ hoàng đầu sỏ) mà thôi. Xin in đậm tám chữ trên để nhấn mạnh điều này.

Nếu theo chuỗi luận cứ đó, phải thừa nhận Phan Bội Châu rất đúng đắn khi gọi An Dương vương là “giặc Thục”, mặc dù quê hương của cụ thờ phụng An Dương vương và Mỵ Châu – Trọng Thuỷ tại Đền Cuông (núi Dạ Sơn, xã Cao Xá, huyện Diễn Châu, Nghệ An).

Thật ra, chắc hẳn Phan Bội Châu chỉ đọc được Toàn thư cùng các sách sử khác, nhưng chưa được đọc Cương mục cùng các sách sử được Quốc sử quán tham khảo, đối chiếu, thể hiện trong bộ sử này.

 

3.

Vấn nạn nhức nhối vẫn còn đó, khi chưa xác minh được An Dương vương Thục Phán có phải là con cháu vua nước Ba Thục và nối ngôi làm vua nước Ba Thục ấy hay không, và đích thực nước Ba Thục có phải là một nước ở vùng đất Tứ Xuyên, Trung Hoa hay không. Nếu đúng như thế, trách gì Phan Bội Châu không gọi An Dương vương Thục Phán là “giặc Thục”!

May thay, Cương mục ghi rõ lời cẩn án: “Ba Thục với Văn Lang còn cách Tuấn Điền (nay thuộc Vân Nam [Trung Quốc – ct.]) không liền đất nhau. […] Việc Thục vương sau đây đều là hư truyền cả, mà chưa khảo cứu được”; “Nước Thục, từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh vương nhà Chu (316 tr. c. ng.), đã bị nhà Tần diệt rồi, làm gì còn có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang, còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, đất Cùng, đất Tác và đất Nhiễm Mang (những đất này xưa là đất mọi rợ ở về phía tây và nam, nay thuộc Vân Nam), cách nhau hàng hai, ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang? Sử cũ đã chép “cháu Thục vương là Phán”, lại chép “An Dương vương họ Thục, huý Phán, người đất Ba Thục”, hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp với nước Văn Lang, còn có họ Thục khác mà Sử cũ liền nhận là Thục vương chăng? Chứ nếu bảo Thục vương đây lại là người Ba Thục thì không phải” (11).

Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa: “Chứ nếu bảo Thục vương đây lại là người Ba Thục thì không phải”. Đó là một lời khẳng định dứt khoát.

Vậy An Dương vương là người nước nào? Là người Việt chăng? Nhưng là Việt nào trong Bách Việt? Câu trả lời: Âu Việt (Tây Vu). Cho nên, khi sáp nhập Âu Việt (Tây Vu) với Lạc Việt (quốc hiệu Văn Lang), tên nước trở thành Âu – Lạc (Âu Việt + Lạc Việt). Lâu nay, hầu như trong tâm thức người Việt Nam chúng ta đều mặc nhiên khẳng định như thế. Đó chỉ là sự sáp nhập hai lãnh thổ của hai bộ tộc Việt gần gũi nhau về mọi mặt, vốn là đồng bào (huyền thoạiMẹ Âu Cơ và Trăm trứng). Nhưng sách sử nào chứng thực đều ấy, ngoài quốc hiệu? Toàn thư viết: “Vua đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc”; “đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa)” (12). Cương mục viết: “Bấy giờ nhà vua đã lấy được Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê” và chua thêm: “Phong Khê: Bây giờ là thành Cổ Loa, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh” (13). Ngoài chính sử, không những các đền thờ An Dương vương ở nhiều địa phương từ xa xưa đến nay còn được tôn tạo, hương khói, mà chính di tích thành Cổ Loa vẫn còn tồn tại với những mũi tên đồng của nỏ thần được giới khảo cổ khai quật, xác định niên đại (bằng phương pháp C14) và trưng bày.

Như thế, vấn đề đã rất rõ ràng. Tuy nhiên, trong thập niên sáu mươi của thế kỉ trước (XX), cuộc tranh luận về vấn đề An Dương vương lại nổ ra. Đào Duy Anh (14) dựa  vào Giao Châu vực ngoại kí, Hoa dương quốc chí (q. 3), và ức thuyết của Trần Tu Hoà trong cuốn sách của ông, Việt Nam cổ sử cập kì dân tộc văn hoá chí nghiên cứu (xuất bản ở Côn Minh, Trung Hoa, 1944) để nêu lên giả thuyết của mình. Theo Đào Duy Anh, ở cuốn thứ nhất, tác giả (?) cho rằng An Dương vương là Thục Vương tử. Cuốn thứ hai, viết về vua nước Thục ở Tứ Xuyên (Trung Hoa) mất nước, bị giết chết bởi quân Tần, cả tướng phó, thái tử Thục cũng thế (chấm dứt 12 đời vua Thục). Cuốn thứ ba, của Trần Tu Hoà, không viết khác hơn, nhưng có thêm chi tiết: “con cháu vua Thục có lẽ đã phải hướng về nam mà phát triển vào miền khí hậu ôn hoà, sản vật giàu thịnh, rồi cuối cùng chiếm được nước Văn Lang” (14). Đào Duy Anh tán thành ức thuyết của Trần Tu Hoà, đồng thời chứng minh thêm bằng cách dựa vào một truyền thuyết thơ lưu hành trong nhân tộc Tày, trong đó có nhân vật Thục Phán. Ông lược thuật: “Ở phía nam Trung Quốc, đầu sông Tả Giang, về gần nước Văn Lang, có bộ Nam Cương hùng cứ một phương. Bộ này do Thục Chế An Trị vương đứng đầu, đóng đô ở Nam Bình (cước chú: Theo ‘Địa danh đại từ điển Trung Quốc’, châu Nam Bình hiện nay ở trong nước ta)” (14);“Thục Chế làm vua 60 năm, thọ 95 tuổi. Con là Thục Phán mới lên 10 tuổi” (14). Và xác định:“Do truyền thuyết trên ấy, chúng ta có thể thấy rằng bộ Nam Cương do Thục Phán làm vua là tương đương với miền Cao Bằng từ Bảo Lạc lấn sang cả một phần phủ Thái Bình tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Nếu thế thì có thể nói rằng con cháu vua nước Thục mà Thục Phán là đại biểu cuối cùng đã từ miền Tứ Xuyên và Vân Nam vào nước Nam Cương của truyền thuyết theo đường sông Lô, sông Gầm, rồi tràn sang miền thượng lưu sông Cầu và sông Hữu Giang”(14). Còn vấn đề ngôn ngữ, huyết thống nhân tộc, vốn là mấu chốt nhất? Đào Duy Anh viết:Những người con cháu nước Thục ấy cũng là người Việt tộc mà sử sách xưa gọi là Quỳ Việt. Với cái đại thế phân bố và di động của những nhóm Việt tộc từ lưu vực sông Dương Tử về nam thì rất có khả năng rằng những nhóm Việt tộc ở miền Vân Nam Quảng Tây, đặc biệt là nhóm Tây Âu ở lưu vực sông Tây Giang vốn có quan hệ xa gần với nhau. Như thế thì những người con cháu nước Thục đó khi đến miền Tả Giang và Hữu Giang tất gặp ở đó những người Tây Âu mà ngôn ngữ và văn hoá không phải xa lạ với họ. […] Miền nam sông Tả Giang và lưu vực sông Hữu Giang cùng với miền thượng lưu các sông Lô, sông Gầm, sông Cầu là địa bàn sinh tụ của những bộ lạc Tây Âu họp thành bộ lạc Nam Cương mà Thục Phán là tù trưởng tối cao…” (14).

Về Hùng vương và nước Văn Lang, Đào Duy Anh viết: “Còn miền trung lưu và hạ lưu sông Hồng từ Yên Bái, miền hạ lưu các sông Lô, sông Cầu, miền lưu vực sông Đáy và lưu vực sông Thái Bình, miền trung lưu và hạ lưu sông Mã và sông Lam cho đến Hoành Sơn, đều là địa bàn sinh tụ của bộ lạc liên hiệp Lạc Việt mà quân trưởng tối cao được truyền thuyết gọi là Hùng vương” (14). Và sự sáp nhập Văn Lang vào Tây Âu (Tây Vu, Âu Việt) cũng diễn ra bằng sự chiến thắng của Thục Phán. Ông kết luận, cả truyền thuyết nhân tộc Tày ngày nay lẫn truyền thuyết của cộng đồng dân tộc Việt Nam đều nhất trí như thế (14).

Thật ra, hiện nay đang còn tồn tại nhiều ức đoán và giả thuyết tuy tương đồng về kết luận nhưng vẫn khác về sự thể với Đào Duy Anh, tất nhiên lại càng đối nghịch hẳn với cách gọi của Phan Bội Châu là “giặc Thục”.

  1. Nguyễn Tài Cẩn là một nhà ngôn ngữ học uy tín, có nhiều công trình nghiên cứu rất có giá trị. Ông đưa ra một giả thuyết về cuộc chiến thắng của bộ tộc có gốc tích Việt Chứt ở Tây Bắc Việt đối với bộ tộc khác (Thái Kadai) trên cơ sở nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt, để lập nên nước Âu Lạc (15).

“Địa bàn cư trú ban đầu của cư dân nói tiếng Proto Việt Chứt là vùng kéo dài từ khu vực miền núi Hà Tĩnh – Quảng Bình – Quảng Trị sang đến Trung Lào” (15); “Rồi từ đây họ lại tản dần ra, chủ yếu là đi ra hướng bắc, men theo các vùng thượng du…” (15); “Cố nhiên, lúc ban đầu, khi mới du cư ra miền Bắc, cư dân Proto Việt Chứt vẫn chủ yếu sống ở miền núi. Cứ liệu ‘Lĩnhnam chích quái’ còn phản ánh rõ điều đó. Ở truyền thuyết họ Hồng Bàng, ngoài việc nói đếnchuyện 50 người con theo mẹ ở lại vùng núi, lập nước Văn Lang và đóng đô ở địa bàn rừng đồi trung du Phong Châu, lại còn nhiều chi tiết miêu tả cụ thể đời sống cư dân hồi đó…” (15). Như vậy, trái ngược với hướng di dân Lạc Việt từ lưu vực phía nam sông Dương Tử, cụ thể nhất là từ Phúc Kiến (Trung Hoa) sang, theo nhiều nguồn tư liệu xưa nay! GS. Nguyễn Tài Cẩn còn dựa vào bản thần tích, “chuyện một vua Hùng từ miền Trung ra, kết hôn với một người con gái họ Ma mà Bùi Văn Nguyên có hồi đã giới thiệu” (15). Và từ vùng đất Tổ đó, sau khi đã hoà huyết, hoà nhập ngôn ngữ, sau khi đã làm quen với trồng trọt, chăn nuôi, canh tác lúa nước, “thì có một bộ phận cư dân Việt Chứt phía Bắc rời bỏ vùng đồi núi để toả về hướng đồng bằng, sinh sôi phát triển mạnh ở vùng châu thổ sông Hồng. Sự mở rộng địa bàn này được phản ảnh trong sử sách qua việc Văn Lang trở thành Âu Lạc, qua việc Phong Châu nhường bước cho Cổ Loa. Về mặt ngôn ngữ, may mắn cũng có cứ liệu hé cho chúng ta thấy cái nguồn gốc chung của cư dân Việt Chứt ở vùng đồi núi miền ngược và cư dân Việt Chứt ở đồng bằng Bắc bộ đó” (15). Vẫn theo GS. Nguyễn Tài Cẩn, “đó là điều tạo tiền đề cho việc hình thành cái nôi của vùng Kinh sau này” (15). Tất nhiên, để tiếp nhận giả thuyết này, phải hiểu thêm về quá trình hình thành vùng châu thổ sông Hồng về mặt tự nhiên (lưu lượng phù sa bồi đắp) và về mặt nhân tạo (sự khai hoang, san lấp ao hồ, đầm phá; hệ thống đê điều, chống lũ, lấn biển). Quá trình ấy đi đôi với quá trình người Việt Chứt từ miền núi tiến xuống đồng bằng sông Hồng như GS. Nguyễn Tài Cẩn đã trình bày trong cuốn sách, cụ thể là ở những đoạn trích bên trên (16).

Sở dĩ tôi phải trích dẫn dài dòng như vậy là để làm sáng tỏ ý tưởng rất cần thiết đối với vấn đề gốc gác huyết thống, ngữ ngôn của An Dương vương Thục Phán, mặc dù GS. Nguyễn Tài Cẩn không nêu đích danh: “Sự mở rộng địa bàn này được phản ảnh trong sử sách qua việc Văn Lang trở thành Âu Lạc, qua việc Phong Châu nhường bước cho Cổ Loa” (15).

Hầu như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh không chú ý và tìm hiểu sâu về khía cạnh ngôn ngữ khi xác định nguồn gốc dân tộc của Thục Phán. Còn sự kiến giải của GS. Nguyễn Tài Cẩn, ít ra về khía cạnh này, ông đã làm sáng tỏ. Nhà ngôn ngữ học đã xác định: “Ở địa bàn Đông Nam Á hiện có những ngôn ngữ thuộc nhiều họ khác (như họ Thái – Kadai, họ Hán – Tạng, họ Nam đảo, họ  Ấn – Âu) nhưng đó đều là những ngôn ngữ mới di chuyển đến về sau. Có thể nói, ở địa bàn này, họ Nam Á mới chính là họ ngôn ngữ bản địa, tồn tại lâu đời nhất” (17). Tất nhiên, theo ông (và tư liệu ông sử dụng): cũng có loại ngôn ngữ cùng họ Nam Á ở Đông Ấn Độ, Nam Trung Quốc (Vân Nam), đặc biệt là ngôn ngữ Lai mới được phát hiện gần đây ở Quý Châu (có thể thuộc tiểu chi Việt Chứt hay gần Việt Chứt) (17); nhưng chắc chắn các nhân tộc Tày, Nùng hiện nay ở Tây Bắc Việt Nam đều thuộc họ ngôn ngữ Thái – Kadai. Đó là những nhân tộc từ nơi xa (tuy không xa xăm lắm) di dân đến, và diễn ra cuộc tiếp xúc với cư dân từ Trung di cư ra Bắc vốn thuộc họ ngôn ngữ Proto Việt Chứt. Xin trích dẫn cụ thể: “Bộ phận cư dân Proto Việt Chứt du cư ra Bắc lại phải có những mối quan hệ tiếp xúc mới, mà trước tiên là tiếp xúc với những cư dân nói ngôn ngữ thuộc họ Thái – Kadai (như tổ tiên của người Tày, người Nùng v.v…)” (18).

Tuy vậy, GS. Trần Quốc Vượng, một nhà khảo cổ học, với cái nhìn địa – văn hoá, lại khẳng định: “Nhưng rồi ông Lê Sơn đã phát hiện và kể lại truyền thuyết ‘Cẩu chúa chèng vua’ ở Cao Bằng, trong đó vua Thục Phán và vị vua cha tiền nhiệm Thục Chế là người Âu Việt Tày cổ ở ngay Cao Bằng. Phát hiện vốn văn học quý giá này khiến ta nhớ lại lời suy đoán của các vị sử quan triều Nguyễn cho là cái nước Thục của An Dương vương không thể ở miền Tứ Xuyên – Ba Thục mà chắc hẳn ở một nơi đâu đó trong miền đông [tây? – ct.] bắc nước ta hiện nay thôi”; “Tôi đã điều tra tại chỗ về huyền tích này ở Cao Bằng năm 1976, và gần đây nhà Thái học Cầm Cường lại phát hiện được một dị bản của huyền tích này ở người Thái Tây Bắc thì thấy rõ cái cốt lõi huyền tích Tày – Thái này là có thực. Từ Đào Duy Anh đến thế hệ chúng tôi đều khẳng định thành phần tộc người và văn hoá Tày cổ trong cấu trúc cư dân – văn hoá Việt cổ – Âu Lạc. Cao Bằng với các mỏ đồng – thiếc, theo tôi đóng vai trò cực kì quan trọng trong thời đại văn hoá – văn minh Phùng Nguyên – Đông Sơn” (19).

Có điều, ai cũng biết rằng việc thiên đô từ Phong Châu (Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) về Cổ Loa (Đông Anh, thủ đô Hà Nội) là một cuộc hoà nhập của trung du với đồng bằng châu thổ, mà đồng bằng châu thổ Bắc bộ là nơi sinh tụ của người Việt cổ (người Việt – Kinh) chứ không phải là địa bàn của người Tày cổ. Do đó, nếu An Dương vương không phải là người Việt cổ hay người Việt cổ đã Tày cổ hoá thì sẽ không có sự tiến về đồng bằng Bắc bộ đó.

Từ những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau (sử học, khảo cổ học; địa lí học; ngôn ngữ học), chúng ta có thể tự rút ra kết luận về gốc tích nhà Thục (An Dương vương).

Sử trung đại, cận đại và hiện đại vốn khá rõ ràng với vô số chứng tích, tư liệu đương thời. Nhưng khác với sử thành văn được ghi chép tức thời ấy, phần dã sử, huyền sử, truyền thuyết lịch sử vốn được bao phủ nhiều lớp sương mù của tư duy thần thoại cổ sơ, mặc dù vẫn có cốt lõi sự thật lịch sử. Sương mù huyền sử bao phủ nhiều lớp cũng phải tan đi. Sự thật lịch sử cổ sơ được mã hoá bằng những hình tượng ẩn dụ phải được giải mã. Vả lại, thư tịch cổ, di tích tín ngưỡng, khảo cổ, nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử, mặc dù có chỗ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về chi tiết của sự thể, nhưng nhìn chung không ai có thể gọi An Dương vương Thục Phán là “giặc Thục”.

Có một điều rất trái khoáy là Phan Bội Châu lại không gọi Triệu Đà (Vũ vương) là giặc xâm lược, mà vẫn gọi là Triệu Vũ với hàm ý tôn trọng, xếp nhà Triệu vào hạng chính thống trong lịch sử Việt Nam, trong khi Toàn thư, Cương mục và sử sách Trung Hoa đều ghi rất rõ: Triệu Đà đích thực là người Hán, làm quan cho nhà Tần thời Tần Thuỷ hoàng, vâng lệnh Tần, trực tiếp giương cờ nhà Tần xâm lược nước ta; và sau khi Tần Thuỷ hoàng chết, Triệu Đà đã thực hiện ý đồ cát cứ, xâm lược Âu Lạc để sáp nhập vào Nam Hải thành nước Nam Việt, rồi tự xưng đế, nhưng lại thần phục nhà Hán (Trung Hoa).

Thế mà…

Xin trích dẫn lại và cũng chỉ bàn trong giới hạn bốn chữ: “giặc Thục”, “Triệu Vũ”: “Nước ta, mọiviệc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê cứu rõ. Còn kể từ thời Triệu Vũ về sau…” (20).

Nhưng ở một chương khác sau đó, Phan Bội Châu viết: “Từ khi Thục An Dương vương (-257) vào làm vua nước ta, đã mở đường cho nước ngoài đến cướp chủ quyền nước ta. Kế đến Triệu Uý Đà (-179) người Chân Định nhà Hán luôn kiêm cả đất nước ta. Người nước ta ngu dại không biết, cam tâm cúi đầu theo mà tôn là đế, là vương” (20).

Đó là nguyên văn của Phan Bội Châu. Biết thế về Triệu Đà, sao Phan Bội Châu không gọi hẳn Triệu Đà là giặc Triệu, giặc Đà – một tên giặc đích thực! Và thật ra, trong văn cảnh cụ thể (đoạn trích ở cước chú (20) ), Phan Bội Châu đã sử dụng từ giặc để chỉ kẻ đã chia đất, chia dân, chia quyền cho bọn giặc ngoại xâm mà thôi. An Dương vương đã chia đất, chia dân, chia quyền cho Triệu Đà nên bị Phan Bội Châu gọi là giặc Thục.

Còn vấn đề quan trọng, An Dương vương là ai, gốc tích thế nào, ta đã rõ, ở mức độ khả quan nhất. Tuy vậy, cố nhiên là không thể so sánh mức độ xác thực về tư liệu, về sự thật lịch sử của sử cổ đại (dã sử, huyền sử) với sử trung đại, cận đại và hiện đại (Toàn thư; Cương mục; Đại Nam thực lục tiền biên, chính biên…). Và từ đó, ta có thể trả lời câu hỏi: An Dương vương là kẻ thù dân tộc (“giặc Thục”) hay là anh hùng bi tráng của dân tộc Việt Nam chúng ta?

Một đoạn thơ trong bài Tâm sự của Tố Hữu hầu như không một học sinh phổ thông trung học nào lại không biết:

 

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc [TXA. ing. & iđ.]

Nên [đến?] nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

 

4.

Tuy thế, ta vẫn chưa thể trả lời thật rốt ráo và đầy sức thuyết phục nếu không tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh cuộc chiến tranh mà Thục Phán tiến hành, tấn công vào đất nước Lạc Việt của vua Hùng và hệ quả của nó. Đó là chiến tranh thôn tính, sáp nhập (Âu Việt + Lạc Việt) mặc dù khởi đầu là bởi lòng uất hận truyền kiếp do bị chối từ lời cầu hôn như Toàn thưCương mụcđã ghi. Nguyên nhân ấy thực chất là tầm thường, khởi từ lòng thù hận, lại cộng thêm tham vọng bành trướng, chiếm hữu.

Thế thì, cho dù như đã khẳng định, Thục Phán là người Việt Chứt hoặc Việt Chứt đã Tày cổ hoá (thậm chí là Quỳ Việt thuộc đại gia đình Bách Việt đã Việt Chứt hoá, Tày cổ hoá), Thục Phán cũng đáng bị chê trách.

Chỉ có thể trả lời: Chiến tranh giữa các bộ tộc hậu kì công xã nguyên thuỷ hay giữa các quốc gia phong kiến sơ khai để tiến tới sự sáp nhập, hình thành một quốc gia phong kiến phát triển vững mạnh là một tất yếu lịch sử. Không thể cứ mãi là tình trạng bầy đàn, thị tộc, hôn nhân đồng huyết (mặc dù phong tục nhuộm răng ăn trầu và sự tích Trầu cau tuyệt vời tốt đẹp đã có từ thời vua Hùng). Phải có một số lượng cư dân nhất định, một diện tích lãnh thổ nhất định, một chính phủ nhất thống nhất định mới có thể lập quốc (lập nước) và vệ quốc (giữ nước). Tất nhiên mọi thứ đều có cái ngưỡng của nó, theo quy luật “lượng đổi, ắt chất đổi”. Nếu vượt quá ngưỡng ấy, thì chiến tranh để sáp nhập, để đủ điều kiện lập quốc (dựng nước) và vệ quốc (giữ nước) trở thành chiến tranh bành trướng, bá quyền, chiến tranh đế quốc chủ nghĩa. Tất nhiên, nói như thế cũng phải nhấn mạnh: phải xét từng trường hợp trong điều kiện lịch sử – cụ thể.

Cho nên, dẫu xuất phát từ lòng thù hận bị từ chối lời cầu hôn, từ tham vọng thôn tính, chiếm hữu, cuộc chiến tranh Thục Phán tiến hành, về mặt khách quan, vẫn là cuộc chiến tranh có ý nghĩa, tác dụng tích cực: Hoà nhập tuyệt đối về huyết thống, lãnh thổ để trở thành một nước Âu Lạc nhất thống. Về ngữ ngôn, tôi thiên về ý kiến, từ một cội nguồn ngôn ngữ Việt Chứt, họ Nam Á, sau một quá trình bị chi biệt hoá (Âu Việt – Lạc Việt, tức là Tiên – Rồng), trở lại duy nhất hoá ở mức độ cao hơn (với sự tôn trọng âm sắc địa phương).

Nhà yêu nước Phan Bội Châu mặc dù có sai lầm về kiến thức sử học cụ thể (mấy ai tránh khỏi [!]) hoặc bị ảnh hưởng, bị chi phối bởi quan điểm thân Hán, Đại Hán chủ nghĩa, nhưng cụ Phan vẫn thấy rõ chân lí lịch sử khái quát, thể hiện ở nhận định cụ thể này: “Các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đều có thay họ đổi dòng. Nhà này mất thì nhà kia lên. Đó gọi là nhà. […] Còn như […] Nguyễn Quang Trung đế là Huệ đối với Nguyễn và Lê là có tội, nhưng đối với nước ta đều là những người đại hiếu tử, là bậc Thượng đẳng công thần” (21). Hoàng Trọng Mậu riêng ở chỗ này lại phê vào cuốn sử của Phan Bội Châu rất xác đáng: “Có tội đối với một nhà, mà lại có công đối với nước. Lời bàn thiên cổ thật là thoả đáng!” (21).

Trong trường hợp An Dương vương, ta có thể vừa vận dụng đồng thời vừa phản bác nhận thức của Phan Bội Châu, rằng: An Dương vương Thục Phán tuy có tội với riêng hoàng tộc Hùng vương, nhưng lại có công với đất nước, nhân dân Âu Lạc (Việt Nam), trong điều kiện lịch sử – cụ thể cách đây khoảng 2.200 năm. Các sử gia Toàn thư, Cương mục, chừng như vô hình trung nhưng thật sự có ý thức sâu sắc, họ đều chép sử, bình luận sử theo tiêu chí ấy (21), tuy vẫn còn khập khiễng ở chỗ này, chỗ khác.

Tp. HCM., khởi thảo vào buổi chiều ngày mười lăm tháng sáu, hai không không tư (hai mươi tám tháng tư, Giáp thân, năm thứ tư công nguyên Hoà Bình); viết xong lúc mười giờ bốn mươi ba phút, ngày 17. 06. HB4 (30. 04 Giáp thân HB4)

 

Chú thích :

(*) Xin xem cước chú (20). TXA. in đậm (iđ).

(1) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003, tr. 186 – 187 (NK. [ngoại kỉ], q. I, tờ 10b – 11b).

(2) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 176, 177, 179 (NK., q. I, tờ 4a, 5a, 6a). TXA. chua thêm (ct.).

(3) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 78, 79 (Tb.I, 7 – 8).

(4) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 23 (Tng. 5). TXA. in đậm (iđ.).

(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 30 (Dch. II, 10).

(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 34 – 35 (Phl. 2 – 3).

(7) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 179 [NK., q. I, tờ 5b].

(8) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 150 (Tl. [tổng luận], tờ 3b – 4a). TXA. iđ..

(9) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 184 [NK., q. I, tờ 8b]. Xin xem thêm cước chú 3 về sự rắc rối địa danh và địa giới Tượng Quận của dịch giả Ngô Đức Thọ, sđd., tr. 183.

(10) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 81 (Tb. I, 11).

(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 74 (Tb. I, 4), tr. 79 (Tb. I, 8). TXA. iđ. & ct.. Trong cuốn Việt Nam sử lược (1921),[Nxb. Tân Việt tái bản, in lần thứ 7, 1964], Trần Trọng Kim cũng đã xác định không khác với Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1884). Ông đặt nguyên một đề mục, “Gốc tích nhà Thục”, trình bày, và kết luận: “Chắc hẳn nhà Thục tức là một họ nào độc lập gần ở nước Văn Lang, chứ không phải là nhà Thục bên Tàu. Sách ‘Khâm định Việt sử’ [Cương mục – TXA. ct.] cũng bàn như thế”. Nhiều ý kiến hiện nay: một nước Thục ở vùng Tây Bắc (Cao Bằng hiện nay, và vùng giáp giới Cao Bằng, hiện nay thuộc Trung Quốc).

Người viết bài này (TXA.) cho rằng, ở trường hợp này có yếu tố ý niệm hoá địa danh, từ một địa danh với vùng địa lí (địa bàn) có thật, dần dần chuyển hoá thành ý niệm – biểu tượng trong tâm thức; đại để cũng như thành ngữ “tết Maroc” có nghĩa là “viển vông; xa xôi; không bao giờ đến ngày ấy”, hoặc như khi người Nam bộ gặp người giọng nói với âm sắc Bắc Trung bộ thì cứ bảo đó là “người Huế”, mặc dù họ thừa biết Huế chỉ là địa danh thường gọi để chỉ một cố đô, vốn là kinh đô dưới triều Nguyễn, nay là thành phố tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên, hoặc như trường hợp dùng hai chữ “bọn Tây”, dần dần đến cuối thế kỉ XX, người ở nước ta hiểu đó là từ ngữ chỉ người Pháp, chứ không phải chỉ người Tây Ban Nha như lúc ban đầu hay người một nước nào đó ở châu Âu (Phương Tây). Về địa danh Ba Thục cũng vậy, đó chỉ là ý niệm địa lí – biểu tượng hoá. Hơn nữa, Toàn thư (sđd., tr. 175 [NK., q. 1, 3a]) viết về cương vực nước Văn Lang: “đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam”; Lê Tung cũng viết trong bài “Việt giám thông khảo tổng luận…” (Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 150 [Tl., 3b – 4a]): “An Dương vương, phía tây thì dời sang Ba Thục, phía nam thì diệt vua Hùng Vương, đóng đô ở Loa Thành, giữ nước Âu Lạc”. Như thế, trong ý niệm – biểu tượng địa lí, Ba Thục là vùng đất sát liền, cận kề biên giới nước ta thời Hùng vương, chứ không phải chính xác là nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (tại Trung Hoa) đã bị nhà Tần tiêu diệt từ năm còn tồn tại nhà Chu (316 tr. c. ng.), và An Dương vương cũng không phải là hậu duệ Thục vương nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (Trung Hoa), mà chính là người Việt Chứt đã Tày cổ hoá.

Ngoài ra, trong sử cổ nước ta (Đại Nam thục lục chính biên chẳng hạn) cũng thường dùng từ “thục man”, để phân biệt với “hoang man”, “cống man”; “thục man” có khi được viết hoa chữ Thục ở bản dịch chữ quốc ngữ abc. Mặc dù mặt chữ Hán của hai chữ Thục trong Thục Phán Thục man khác nhau, nhưng hiện tượng sai biệt hoá, chuyển hoá từ chữ này sang chữ khác trong khi sử dụng là không có gì lạ (như chữ Chỉ trong từ Giao Chỉ có ít ra là hai mặt chữ Hán khác nhau, nghĩa khác nhau, chẳng hạn). Theo đó, Thục Phán chính là vua của xứ Thục Man hoặc nước Thục Man, thuộc vùng Tây Bắc nước ta.

(12) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 179 [NK., q. I, tờ 5b – 6a].

(13) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 79 (Tb. I, 8). Dịch giả Ngô Đức Thọ cước chú: “Hiện nay, Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, TP. Hà Nội”.

(14) Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 24 – 27. TXA. iđ.. Chú thích (14) chung cho các đoạn trích dẫn tiếp theo từ cuốn sách này. Lập luận của Đào Duy Anh cũng vẫn như thế ở cuốn sách khác của ông: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 54 – 56. Tuy nhiên, Đào Duy Anh lại suy đoán, giả định sai lạc với chính sử, khi đưa ra khả năng thứ hai: Thục Phán chỉ lật đổ Hùng vương sau khi đã thắng giặc Tần (Trung Hoa)!

(15) GS. Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb. Giáo Dục, 1995, tr. 319 – 324. TXA. iđ.. Về thuật ngữ Thái – Kađai, theo GS. Trần Quốc Vượng: “Những cư dân Tày – Thái cổ vừa gần gũi Nam Á vừa gần gũi Nam Đảo mà có học giả (Karl Paul Benedict) gọi là Kadai hay là Nam Thái (austro – Thái) có lẽ là chủ nhân chính của văn hoá Phùng Nguyên” (Việt Nam, cái nhìn địa – văn hoá, Nxb. Văn hoá dân tộc & Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật xb., 1998, tr. 50).

(16) GS. Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa – văn hoá, Nxb. VHDT. & Tạp chí VHNT. xb., 1998, tr. 44 – 45, 49: “Sau thời Plêitoxen cách đây khoảng 10.000 – 7.000 năm, băng hà Wiirm cuối cùng đã tan, dồn nước về các đại dương, gây nên hiện tượng biển tiến đầu hay / và giữa thời toàn tân Hôlôxen. […] Nó đánh dấu một sự ‘hoang vắng’ của trung du trong suốt thời gian từ khoảng trên dưới 4.000 năm cách ngày nay… Đến một thời đổi khác của trung du, diễn ra trong khoảng trên dưới 4.000 năm cách ngày nay… Sau 4.000 năm là thời Hôlôxen muộn (4.000 – 2.000 năm), đây là thời biển lùi. Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ thứ hai được thành lập, cố nhiên là cũng phủ đầy rừng. Con người hậu kì Đá Mới, từ miền núi cao Vân Quý – Quảng Tây tiến xuống, từ miền hải đảo biển khơi ngược sông tiến vào, từ dải Trường Sơn dọc Trung Bộ Việt Nam – Trung Hạ Lào tiến ra… hội tụ ngày một đông đảo ở vùng trung du giáp đồng bằng. Đấy là sự hội tụ con người và văn hoá lần thứ hai ở miền trung du Vĩnh Phú – Sơn Tây. Ta có thể gọi đó là sự hội tụ Phùng Nguyên” (sđd., tr. 44 – 45); “Người ta đã đề cập đến những nhân tố cư dân – ngôn ngữ – văn hoá: Môn Khơme cổ, Tày – Thái cổ, Mã Lai cổ và thậm chí cả Tạng – Miến cổ trong sự sinh thành phức hệ cư dân – ngôn ngữ – văn hoá Việt cổ bắt đầu từ Đất Tổ trung du” (sđd., tr. 49).

(17) GS. Nguyễn Tài Cẩn, sđd., tr. 10; và ở tr. 316. TXA. iđ.: “Căn cứ những thành tựu mới nhất công bố trong khoảng vài mươi năm lại đây, hiện nay có thể kết luận: tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu thuộc khu vực phía Đông của ngành Môn Khmer, họ Nam Á[TXA. in nghiêng (ing.) & iđ.]”; “tiểu chi Việt Chứt (Việt Mường + Pọng Chứt = Việt Chứt)”.

(18) GS. Nguyễn Tài Cẩn, sđd., tr. 321.

(19) GS. Trần Quốc Vượng, sđd., tr. 17 – 19, 47, 104 –105, 118 – 122, 131, 142 – 143… TXA. iđ.. GS. Trần Quốc Vượng còn chú thích thêm: Nguyễn Siêu, tác giả “Phương Đình dư địa chí” (bản dịch Ngô Mạnh Nghinh, Sài Gòn, 1960), tỏ ý không công nhận An Dương vương là con vua nước Ba Thục.

(20) Phan Bội Châu, Những tác phẩm Phan Bội Châu, tập I [gồm Việt Nam vong quốc sử & Việt Nam quốc sử khảo], Văn Tạo chủ biên và các dịch giả, Nxb. KHXH., 1982, tr. 200 – 201, 210. Xin trích một đoạn Việt Nam quốc sử khảo để xem nhận định của Phan Bội Châu đúng hay sai, và đúng, sai ở mức độ nào: “… Sở dĩ gọi là nước vì có chủ quyền, có nhân dân, có đất đai. Nếu ba thứ ấy còn thì nước còn là nước, ba thứ ấy mất thì không phải là nước nữa. Lấy một trong ba thứ ấy đem cho người ngoài thì gọi là giặc của nước; lấy cả ba thứ ấy đem tất cho người ngoài thì là đầu sỏ của giặc nước.

[…]

Nước ta, mọi việc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê cứu rõ. Còn kể từ thời Triệu Vũvề sau, ta kể được ba người giặc của nước:

Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần và để cầu nhà Minh sắc phong cho, y đã cắt 59 thôn của châu Lộc Bình cho lệ thuộc vào phủ Tư Minh của nhà Minh.

Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, sợ nhà Minh hỏi tội, đã lấy hai châu Thạch Tích, Niêm Lãng và bốn động Cổ Sâm, Tư Lẫm, Kim Lặc, Liễu Cát hiến cho nhà Minh. Bản án kết tội bọn ấy nên ghi là: “Lấy đất đai của nước, nhân dân của nước, tặng người ngoài, tội đáng chém!”. Chúng nó lấy lời gì để biện bạch được?

Còn một người nữa thì là một mẹ một con thuộc bản triều [Từ Dũ – TXA. ct.]. Vì ham sống yên phận đã đem một lúc cả ba thứ nói trên dâng cho lũ giặc. Thật là một tên giặc đầu sỏ lớn của nước ta” (+). (sđd., tr. 200 – 201)

Tất nhiên không phải Phan Bội Châu viết điều gì cũng đúng và càng không phải cụ viết gì cũng sai. Đó là chưa nói đến phương pháp viết sử với các thao tác cần thiết, nhất là thao tác trích dẫn tư liệu gốc.

(+) Đó là nhận thức của Phan Bội Châu vào năm 1908 (khi xuất bản “Việt Nam quốc sử khảo”), tức là sau 04 năm, kể từ năm xuất bản “Việt Nam vong quốc sử”. Phan Bội Châu viết như trên là do sự phản hồi của công luận bấy giờ. Như thế, Phan Bội Châu đã phủ nhận “ViệtNam vong quốc sử” về mục “nguyên nhân mất nước”. Rất tiếc là mặc dù có phần nào gần với sự thật lịch sử hơn, nhưng nhận thức vào năm 1908 của Phan Bội Châu cũng còn thiên kiến và cực đoan. Xin xem thêm những cuốn sách Trần Xuân An viết về đề tài này: 1) Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003. 2) Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001. 3) Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 & 2003…

(21) Phan Bội Châu, sđd., tr. 200 – 201. Phan Bội Châu cũng như nhiều nhà sử khác chỉ thấy Quang Trung Nguyễn Huệ có tài thao lược, đánh tan 20 vạn quân Thanh nhân cớ nhà Lê cầu viện mà sang cướp nước ta, nhưng không thấy rằng, việc quân Thanh kéo sang cướp nước ấy là hệ quả của cuộc binh phạt, đánh dẹp cả chúa Nguyễn (Đàng Trong) lẫn vua Lê – chúa Trịnh (Đàng Ngoài), do chính ba anh em Tây Sơn tiến hành, trong đó Nguyễn Huệ nổi bật lên, gánh vác sứ mệnh lịch sử. Thử truy lại nguyên nhân, nếu không có phong trào Tây Sơn, làm gì có việc quân Thanh mượn cớ kéo sang! Do đó, Nguyễn Huệ có trách nhiệm phải giải quyết. Và Nguyễn Huệ đã giải quyết thành công, lập nên chiến tích. Theo tôi, lẽ ra, chính xác hơn, là nhận định rằng, Nguyễn Huệ đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử nước ta vào các thế kỉ XVI – XVIII là phải thống nhất đất nước, thoát khỏi hoạ phân liệt giữa Đàng Trong – Đàng Ngoài, và giải quyết tốt hệ quả… Nói khái quát hơn, nhân vật lịch sử nào, lực lượng lịch sử nào đáp ứng được yêu cầu lịch sử bức thiết, chính đáng phát sinh từ hiện thực khách quan của xã hội (của nhân dân), của Đất nước, chính nghĩa thuộc về họ; và mặc dù có tham vọng cá nhân nhưng tham vọng cá nhân ấy phù hợp với yêu cầu lịch sử thì họ vẫn xứng đáng được ghi công. Cố nhiên, nếu tài cao, đức trọng, toàn tâm toàn ý và hành động hoàn toàn vì nhân dân, vì Đất nước, vì nhân loại, vì chính nghĩa, giải quyết tốt những hệ quả đau thương, bi tráng do tình huống lịch sử tạo ra, lại càng vĩ đại. 

Đăng tải tại Books, Phóng Sự - Ký Sự | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Một kiến giải lịch sử về truyền thuyết Lạc Long Quân

Trong truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên, khi chia tay Đức Âu Cơ và các con, Đức Long Quân đã căn dặn rằng: “Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên”.

Trong các câu chuyện dân gian, mỗi khi dân tộc Việt Nam gặp nguy khốn, Đức Long Quân lại ra tay giúp đỡ. Và thế là dân tộc Việt Nam chuyển nguy thành an, sống cuộc đời an cư lạc nghiệp. Nhưng đâu là sự thực của sự giúp đỡ đó?

Xin bàn luận về vấn đề này để chúng ta có dịp hiểu sâu sắc hơn về suy nghĩ của cha ông ta trong quá khứ.

Diệt quái, dạy dân, lấy vợ, chống giặc

Trước khi kết duyên với Đức Âu Cơ và sinh ra trăm con Bách Việt, theo nhiều tài liệu, Long Quân là vị vua của vùng đất Lĩnh Nam với tên tục là Sùng Lãm.

Khi lên làm vua, Long Quân đã có nhiều chiến công hiển hách như diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh và đẩy lùi sự xâm lược của Đế Lai đến từ phương Bắc.

Ngoài các chiến công đó, Long Quân còn có công dạy cho người dân biết cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm, đốn gỗ làm nhà sàn để ở, phòng thú dữ và đề ra quy tắc ứng xử cha con, vợ chồng…

Công đầu của Đức Long Quân là đã để lại cho con cháu Bách Việt của mình những tiền đề để thành lập một quốc gia độc lập và tự chủ như sau:

Thứ nhất, việc đẩy lùi cuộc xâm lược của Đế Lai đã bảo vệ được vị thế của những cư dân bản địa ở vùng đất Lĩnh Nam và tạo ra sức mạnh vượt trội về quân sự của cư dân vùng đất này đối với các cư dân ở những vùng đất xung quanh.

Thứ hai, việc Đức Long Quân đi tuần du khắp nơi, tiêu diệt các “loài quái vật” thực chất là việc khai hoang, san rừng lấp bể để mở rộng cương vực của những cư dân bản địa vùng Lĩnh Nam. Đây là một tiền đề quan trọng để thiết lập đúng nghĩa về cương vực một quốc gia.

Thứ ba, việc Long Quân lấy Âu Cơ, người phương Bắc và sinh con đẻ cái đã tạo ra sự giao thoa, học hỏi văn hóa giữa các vùng miền, phá vỡ tính cục bộ địa phương của từng bộ lạc. Rồi việc “phân chia” con cái thực chất là phân chia các cư dân theo địa vực cư trú, một “dấu hiệu” của Nhà nước. Dù chỉ là hình thức sơ khai nhất: phân chia giữa miền núi và miền biển.

Chính vì vậy nên đến khi người con cả Long Quân trưởng thành, Nhà nước Văn Lang đã có đủ điều kiện để ra đời và theo truyền thuyết thì truyền được 18 đời Hùng Vương.

Khuyên vua Hùng

Theo nhiều tài liệu văn học dân gian, khi giặc Ân xâm lược nước Văn Lang, Lạc Long Quân đã “khuyên” vua Hùng thứ sáu nên cho sứ giả đi khắp nước để tìm người kỳ tài ra cứu nước.

Và người đó chính là Tháng Gióng, người anh hùng nhổ tre đánh giặc, đánh lùi giặc Ân, đem lại thái bình và lạc nghiệp cho cư dân Văn Lang.

Sự việc này tất nhiên là một huyền thoại. Tuy nhiên, chúng ta nên đặt ra một câu hỏi: Tại sao dân gian lại “cho phép” Đức Long Quân hiện thân và thực hiện điều đó?

Đầu tiên, việc Đức Long Quân hiển linh, báo mộng cho vua Hùng nghĩa là người Văn Lang lúc này đã thịnh hành về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Và việc tin vào quỷ thần báo mộng hoặc gieo quẻ đoán việc khi đó đã trở nên phổ biến trong lòng xã hội Văn Lang. Điều này là một sự hiển nhiên khi Nhà nước Văn Lang vẫn rất sơ khai và vị thế lẫn quyền lực của các vua Hùng vẫn chưa được chuyên chế hóa.

Câu chuyện Mai An Tiêm dám nói “của biếu là của lo, của cho là của nợ” khi vua Hùng đãi ngộ là một ví dụ điển hình. Khi vua chưa chuyên chế thì tội “khi quân phạm thượng” đã không được áp dụng tối đa để áp chế lòng người.

Đổi lại, vai trò của thấy cúng, thầy pháp là rất to lớn trong tín ngưỡng và lòng tin của người dân. Và việc sử dụng thần linh để tạo ra quyền lực cho Nhà nước sơ khai là một “dấu hiệu” quan trọng trong thời kỳ này.

Giúp Thục Phán

Thành Cổ Loa gắn liền với những truyền thuyết kỳ thú của dân tộc Việt: An Dương Vương định đô, xây thành; chiếc nỏ thần Kim Quy bắn một phát hạ hàng trăm tên giặc; mối tình bi thương của Mỵ Châu – Trọng Thuỷ… Nhưng vì quá chú ý đến những tình tiết này nên ít ai lưu tâm đến “vai trò” của hình tượng Đức Long Quân trong đó.

Theo truyền thuyết thì thần chính là người sai Kim Quy giúp vua xây thành Cổ Loa để định đô và chế “nỏ thần” để chống giặc.

Việc Long Quân giúp An Dương Vương xây thành, chế “nỏ thần” nên nhìn nhận như thế nào cho hợp lý?

Chắc hẳn Thục Phán là một người rất toan tính khi đã vay mượn hình tượng Long Quân để trấn áp sự phản kháng của cư dân Văn Lang trong việc xây Loa thành và cai trị đất nước.

Việc thành Cổ Loa “xây rồi lại sập” nhiều lần, không phải là do nhà Thục không đủ kĩ thuật mà có thể là do người dân Văn Lang cũ bất phục tùng nên phá hoại khi phải phục dịch xây dựng cung điện cho một bộ tộc khác. Và dù Thục Phán là anh hùng đánh bại quân Tần thì vẫn không thể xua tan tâm lý “bài ngoại” của cư dân Văn Lang vốn còn lưu giữ chế độ thị tộc rất sâu sắc. Thục Phán là thủ lĩnh ngoại tộc bị nhà Tần dồn đuổi mới chạy xuống vùng đất Văn Lang và đã cướp ngôi vua của Hùng Vương thứ mười tám. Những cuộc chiến đã diễn ra giữa hai bên Hùng – Thục được miêu tả rất nóng bỏng và sinh mạng của người Văn Lang đã bị tàn hại rất nhiều.

Việc Loa thành không thể xây dựng thành công cũng vậy. Thực tế là kĩ thuật xây thành của nhà Thục rất điêu luyện và công phu. Kiến trúc kiên cố của Loa Thành sau này với hàng vạn mũi tên đồng tìm được là những ví dụ điển hình. Chính vì vậy nên mới có chuyện Thục Phán phải đăng đàn với trời đất để cầu thánh thần phù trợ. Việc nhà Thục tung tin rằng Long Quân sai Kim Quy đến giúp sức xây thành, cho lẫy làm “nỏ thần” chính là một thủ thuật gây “nhiễu” tâm lý của lao dịch người Văn Lang trước khi sử dụng bạo lực áp chế họ xây thành và cai trị họ. Chúng ta có từng suy nghĩ là chiếc “nỏ thần” vào thuở ban đầu do tướng Cao Lỗ làm ra chính là thứ vũ khí để áp chế dân chúng trước khi chống Triệu Đà không? Chính vì nền tảng quyền lực như vậy nên Thục Phán mới đa nghi với nhân dân nhưng lại hòa hiếu với Triệu Đà để đến nỗi mất nước. Thậm chí đến con gái mình cũng xem là “giặc”. Một sự bao biện đến kinh hoàng.

Tuy nhiên, xé lớp màn sương huyền hoặc đi thì ta sẽ có một kết luận thú vị rằng: Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một vị vua ngoại tộc đã cai trị quốc gia dựa vào niềm tin thánh thần của dân tộc khác và đã tỏ ra thành công trong buổi ban đầu.

Sau này, người Mông Cổ là một thí dụ điển hình của thủ đoạn chính trị này. Áp chế được các dân tộc khác bằng quân sự, chính trị nhưng lại phải sử dụng văn hóa của các dân tộc đó để dễ bề cai trị.

Trao kiếm Thuận Thiên

Việc Đức Long Quân “trao” kiếm Thuận Thiên cho Lê Lợi cũng có nhiều điều khiến chúng ta băn khoăn suy nghĩ không kém.

Vào thời gian nhà Minh chiếm đóng Đại Việt, Lê Lợi đã dựng cờ khởi nghĩa ở vùng Lam Sơn, Thanh Hóa để chống lại ách đô hộ của nhà Minh. Buổi đầu thế lực còn non yếu nên trước thế mạnh và khả năng tổ chức tốt của quân đội nhà Minh, nghĩa quân của Lê Lợi nhiều lần thất bại.

Do vậy, để tập hợp lực lượng và thu phục lòng dân, Lê Lợi buộc phải sử dụng đến sức mạnh thánh thần. Và sự thông minh của Lê Lợi là đã chọn Đức Long Quân làm “giá đỡ” cho tinh thần nghĩa quân đang rệu rã.

Cùng với sự “tự trị” của làng xã, sự chiến đấu bền bỉ và sự xuất hiện của các anh hùng cái thế thì dòng máu Lạc Hồng cũng là một yếu tố tạo nên sức mạnh phản kháng như bão táp của dân tộc Việt Nam trước mọi sự xâm lược đến từ bên ngoài.

Đọc truyền thuyết Hồ Gươm ta càng thấy rõ về điều này. Việc thanh kiếm Thuận Thiên không đến thẳng với Lê Lợi mà được chia làm hai phần: một lưỡi kiếm và một chuôi kiếm, rồi việc khi có thanh gươm thần, Lê Lợi đánh thắng liên tiếp quân Minh và việc “hoàn kiếm” cũng chứng tỏ sự tính toán đầy khôn ngoan của Lê Lợi trong việc tung các tin đồn để khích động sự quan tâm của xã hội vào vấn đề chung của đất nước.

Thứ nhất, việc bộ hạ Lê Thận kéo lưới “vô tình” được lưỡi gươm, Lê Lợi chạy giặc “vô tình” được chuôi kiếm đã khiến người dân và nghĩa quân tin chắc chắn rằng quân Lam Sơn đang được thần linh phù trợ.

Lịch sử có nhiều ví dụ tương tự để chứng minh. Như cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng ở Trung Quốc thời Đông Hán đã phát triển đến cả trăm vạn binh sĩ khi anh em họ Trương tung tin đồn “Trời xanh đã chết, trời vàng lên thay”. Hay như “bài thơ thần” Nam Quốc Sơn Hà tương truyền của Lý Thường Kiệt đã giúp nhà Lý đánh bại được quân xâm lược nhà Tống trong trận quyết chiến chiến lược.

Thứ hai, từ việc tung tinh đồn có Long Quân phù trợ, Lê Lợi và bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã cố gắng đánh ăn chắc một số trận. Từ đó sẽ tạo ra tâm lý “bách chiến bách thắng” của nghĩa quân Lam Sơn khi sở hữu Thuận Thiên Kiếm. Điều này rất có lợi cho việc chiến đấu và quy tụ lực lượng của nghĩa quân.

Nói chung, đối với Lê Lợi thì việc sử dụng biểu tượng Đức Long Quân để nâng cao vị thế của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chính là đã áp dụng thủ thuật “binh bất yếm trá”. Nghĩa là dùng mọi thủ đoạn để khôi phục quốc gia dân tộc.

Thứ ba, việc “hoàn kiếm” cũng là một thủ thuật chính trị mẫu mực của Lê Lợi. Là người đứng đầu một quốc gia dân tộc nên Lê Lợi phải tính toán để kết thúc hợp lý truyền thuyết do mình tạo ra. Nghĩa là, việc Long Quân cho thần Kim Quy nổi lên ở hồ Tả Vọng để đòi lại kiếm trước thuyền Rồng của vua thực chất chỉ là sự “hợp lý hóa” truyền thuyết Thuận Thiên Kiếm do Lê Lợi tạo ra.

Sự có trước có sau, đầu đuôi đều khớp như thế không những không làm lộ “sự thật” về Thuận Thiên Kiếm mà còn tăng thêm tính thiêng liêng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và uy tín của vương triều họ Lê.

Trong buổi đầu xây dựng chế độ, việc làm đó của Lê Thái Tổ đã tạo ra sự vững tin tuyệt đối của nhân dân vào vương triều. Điều này rất có lợi cho công cuộc ổn định và dựng xây lại đất nước.

Cuối cùng, qua tìm hiểu của chúng tôi, thanh kiếm Thuận Thiên của Lê Lợi và thanh Excalibur của vua Arthur nước Anh có nhiều điểm tương đồng đáng kinh ngạc. Nó cùng tượng trưng cho quyền và tính hợp pháp của nhà vua tương lai, cùng được một sinh vật sống dưới nước trao tặng, cùng quay trở về nơi nó xuất phát sau khi đã giúp người được trao tặng hoàn thành mục đích của mình.

Như vậy, không chỉ Lê Lợi mà nhiều vị vua cũng rất “thích” một truyền thuyết có lợi cho mình như thế. Đó chính là mẫu số chung của các nhà lãnh đạo mong muốn có sự chuyên chế và phục tùng để ổn định dân tâm, dân tình cho một đất nước còn đang có nhiều sự nhiễu nhương, bất ổn.

Đăng tải tại Phóng Sự - Ký Sự | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Làng chuột Phù Dật – An Giang

Sau khi bị “thảm sát”, xác chuột còn nóng hổi được chất đầy trong chậu để chuyển vào xưởng. Trong xưởng, hàng chục người sẽ đảm nhận nhiều công đoạn chế biến chuột khác nhau…

Từ nhiều năm nay, làng chuột Phù Dật (ấp Bình Chiến, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang) đã được biết đến như một trung tâm trao đổi mua bán, giết mổ chuột lớn nhất miền Tây Nam Bộ.

Cảnh tượng quen thuộc dọc theo con đường chính của ấp Bình Chiến vào mỗi buổi sáng là vô số những chiếc lồng sắt lúc nhúc chuột, được thu gom từ nhiều miền quê của đồng bằng sông Cửu Long. Theo ước tích, khoảng 1/3 trong số 600 hộ dân ở ấp sống bằng nghề làm thịt chuột.

Ngay sau khi đưa về chợ chuột Phù Dật, những chú chuột sống sẽ “nếm trải” nhiều công đoạn xử lý khác nhau trước khi trở thành sản phẩm bán ra thịt trường.

Đầu tiên, chuột bị tóm đuôi lôi ra khỏi lồng và “hóa kiếp” chỉ bằng một cú đập gọn ghẽ vào thớt gạch.

Sau khi bị “thảm sát”, xác chuột được chất đầy trong chậu để chuyển vào xưởng chế biến.

Trong xưởng, hàng chục người sẽ đảm nhận nhiều công đoạn chế biến chuột khác nhau.

Đầu tiên là cắt bỏ chân, đuôi, hàm răng của từng chú chuột.

Chuột sau công đoạn xử lý đầu tiên.

Phụ phẩm của quá trình này sẽ không bị vứt bỏ mà được tận dụng làm thức ăn nuôi cá.

Các công đoạn tiếp theo là lột da, lọc bỏ mắt và nội tạng chuột…

Những thành phần bỏ đi này cũng được dùng làm thức ăn cho cá.

Những chú chuột gớm ghiếc được làm sạch sẽ trông đã “ngon mắt” hơn rất nhiều.

Chúng sẽ được rửa sạch và ướp đá trước khi xuất ra thị trường.

Đồi tượng tiêu thụ thịt chuột chủ yếu là các nhà hàng, quán nhậu. Với người dân miền Tây, thịt chuột là món nhậu đặc sản không thể thiếu trong thực đơn.

Chuột cơm và chuột cống nhum là hại loại chuột được ưa chuộng nhất ở miền Tây, trong đó chuột cơm là loại phổ biến nhất.

Chuột được coi là thực phẩm sạch, do kiếm ăn chủ yếu ngoài đồng ruộng, sống xa nơi khu dân cư nên ít mầm bệnh.

Mỗi ngày, khoảng 3-5 tấn chuột được tiêu thụ tại làng chuột Phù Dât. Điều này không chỉ đem lại công ăn việc làm cho người dân địa phương mà còn tạo nên một điểm đến thú vị mạng đậm nét văn hóa miền Tây dành cho du khách trong và ngoài nước.

Những món ngon từ chuột

Chuột xào sả ớt

Với vị ngon, dai đặc trưng mà ít nơi nào có thể có được, thịt chuột đã trở thành món ăn đặc sản của nhiều du khách gần xa khi đến tham quan du lịch và thưởng thức những món ăn tại vùng đất miền Tây. Bản thân thịt chuột rất chắc thịt nhưng vị hơi nhạt, chính vì vậy sau khi làm sạch thịt chuột sẽ được ướp với nhiều nguyên liệu như sả, ớt, hành tây, cà ri, ngũ vị hương, nước dừa xiêm cùng nhiều gia vị khác như muối, ớt, chanh, hạt tiêu, đường… Ướp thịt khoảng 30 phút với gia vị sau đó đem chiên, ăn kèm với nó là nước tương đen hoặc nước muối chanh, với vị the the, cay cay của ớt và vị thơm của xả, vị đậm đặc của nước sốt làm nên một đĩa thịt chuột xào xả ớt thơm ngon tròn vị.

Chuột xào xả ớt

chuột đồng, món ngon

Chuột đồng áp chảo

Chuột cống nhum là loại thích hợp nhất để làm món đặc sản chuột đồng áp chảo. Với các nguyên liệu thịt chuột, tỏi, ớt, muối, bột ngọt, mật ong. Ướp chuột khoảng 2 – 3 tiếng cho thịt thấm gia vị, sau đó cho thịt chuột ra chảo chống dính và rán lên. Chúng ta sẽ có một món đặc sản được chế biến từ thịt chuột với hương vị mới lạ, đậm đà. Món ăn này rất thích hợp dùng chung với thịt bò xào hành tây trong những buổi tiệc của Nhà hàng và cũng là món ăn hàng ngày trong gia đình. Du khách khi đến tham quan nơi đây đảm bảo sẽ không uổng phí thời gian khi đến với miền đất sông nước.

Chuột đồng áp chảo

Chuột quay lu

Món chuột quay lu cũng là một trong những món ăn được chế biến từ thịt chuột và là món ăn đặc sản khiến nhiều du khách nước ngoài phải trầm trồ khen ngợi. Những con chuột được chọn là chuột thật béo cùng với cách làm khá đơn giản, chỉ cần làm sạch ruột, cắt móng, rồi tẩm ướp gia vị, sau đó đốt rơm hun khói, để trong khoảng 15 phút, sau đó lấy từng con cho vào lu, vừa quay vừa trở tay. Trong lúc quay, liên tục thêm mỡ, thêm nước gia vị, khoảng một tiếng thì chuột chín. Món ăn này tuy hơi mất công một chút nhưng bù lại khi ăn sẽ rất ngon. Chuột đồng quay lu là một món ăn vừa ngon vừa lạ miệng, đây là một trong những món đặc sản của Miền Tây Nam Bộ.

Chuột quay lu

 

Chuột đồng rang muối

Chuột đồng rang muối với các nguyên liệu (thịt chuột, muối). Sau khi làm sạch, chuột được chặt thành từng miếng nhỏ và đem ướp với hỗn hợp muối, chanh, ngũ vị hương, bột ngọt… cho thấm rồi rang chín với lửa lớn. Món ăn này không chỉ có hương thơm khó cưỡng, vị đậm đà mà thịt chuột còn dai, săn chắc, đảm bảo khi ăn xong sẽ không thể nào quên, và đây cũng là một trong những món ăn đặc sản được chế biến từ chuột đồng.

Chuột đồng rang muối

 

Chuột nướng

Thịt chuột nướng là một trong các món có thể nói được nhiều du khách ưa chuộng nhất khi đến tham quan vùng đất này với các nguyên liệu chế biến như thịt chuột cùng các gia vị khác: muối, đường, tỏi… Sau khi thui rơm, làm sạch, ướp với muối hột, kẹp vào thanh tre nướng trên than đỏ rực. Khi chuột gần chín, trộn thêm muối hột, sả băm nhuyễn rang với ít mật ong phết lên trên. Khi du khách thưởng thức món này, nên xé từng miếng thịt chuột nướng nóng hổi, kẹp chung với các món rau răm, rau thơm, khế, xoài xanh, chuối chát, chấm muối sả.

Chuột nướng

chuột đồng, món ngon

 

Chuột khìa nước dừa

Chuột khìa nước dừa với những nguyên liệu đơn giản nhưng rất đặc biệt, với các nguyên liệu như thịt chuột, nước dừa, rau thơm… Thịt chuột sau khi làm sạch được nhồi vào bụng hỗn hợp gồm: hành tỏi, ngũ vị hương, đường, muối, bột ngọt, sau đó cho vào chảo, rán chín. Món ăn này không chỉ đặc biệt, mới lạ ở cách thực hiện mà còn bởi vị rất ngon, thơm lừng của thịt chuột, vị béo của dừa đã làm nên một món ăn đặc sản của nhiều vùng.

Chuột khìa nước dừa

 

Thịt chuột luộc ép lá chanh

Sau khi làm sạch, chuột được luộc chung với nước mưa. Chuột chín, vớt ra, để ráo, rồi xếp lên thớt, cho lá chanh lên trên. Dùng một cái thớt khác, lèn chặt cho chuột chảy bớt nước mỡ. Để như thế vài giờ rồi tách thớt, lấy chuột chặt nhỏ, rắc lá chanh lên trên. Món này khi ăn kèm muối tiêu chanh, thịt thơm, ngọt, dai chắc như thịt gà.

chuột đồng, món ngon
Chuột nhum (một loại chuột đồng) hấp lá chanh.
chuột đồng, món ngon
Chuột đã được rải lá chanh, chuẩn bị ép nước.

 

Chuột xào lăn

Chuột xào lăn là món ăn được chế biến rất đơn giản, thịt chuột sau khi làm sạch được chặt ra từng miếng nhỏ và ướp với bột cà ri, ngũ vị hương, sả và ớt. Sau đó bắc chảo mỡ phi hành tỏi rồi cho thịt vào xào là sẽ có một đĩa thịt chuột xào thơm ngon tròn vị chưa từng thấy. Thịt vừa chín tới, rưới thêm nước cốt dừa, sau khi nước dừa ngấm đều vào thịt thì chúng ta có thể thưởng thức, khi đến với Miền Tây Nam Bộ, du khách sẽ được chứng kiến những đầu bếp tài giỏi sẽ thực hiện nấu những món ăn được làm từ thịt chuột cho tất cả những du khách gần xa đến tham quan, món ăn này đi kèm theo nó là rau thơm, chuối non cắt mỏng là rất tuyệt vời.

Chuột xào lăn

 

Chuột xào lá cách

Chuột xào lá cách – món ngon mỗi ngày trong bữa cơm gia đình hay món nhậu của nhiều chú bác. Cách thức thực hiện rất đơn giản, bạn cần chuẩn bị thịt chuột tươi sống, làm sạch sau đó để ráo,rồi ướp cùng bột cà ri, tỏi, sả, đậu phộng rang vàng giã nhỏ. Phi hành, tỏi băm nhuyễn sau đó cho thịt chuột vào xào khô, khi chín cho lá cách cắt nhỏ và trộn đều. Món này được ăn kèm với bánh tráng nướng.

Chuột xào lá cách

 

 

 

Đăng tải tại Phóng Sự - Ký Sự | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Trục vớt quả bom sát chân cầu Long Biên

Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 1
Chiều 28/11, lực lượng chức năng trục chuẩn bị công tác vớt quả bom gần trụ P13 cầu Long Biên để đưa đi xử lý. Lúc này giao thông trên cầu vẫn hoạt động bình thường, riêng đường thủy được phong tỏa, cấm tàu thuyền qua lại.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 2
Chiếc can nhựa nổi đánh dấu khu khu vực có bom gần trụ P13 cầu Long Biên. Bộ tư lệnh Công binh thực hiện và xác định quả bom dài khoảng 2-2,2 m, đường kính 60 cm, nằm sâu dưới mực nước khoảng hơn 5 m.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 3
Theo phương án nghiên cứu, lực lượng chức năng sẽ dùng dây kéo và người nhái sẽ lặn ở dưới đỡ quả bom. Khi vào bờ, bom sẽ được đưa lên ôtô và chuyển đi nơi khác xử lý. Trong ảnh, một chiếc tàu quân sự đang tiếp cận khu vực có bom.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 4
Người đi đường hiếu kỳ dừng lại xem bộ đội tiến hành trục vớt quả bom.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 5
Việc vớt và xử lý bom do Bộ tư lệnh Thủ đô chủ trì, phối hợp với Bộ tư lệnh Công binh, Cục đường thuỷ và các lực lượng liên quan thực hiện. Vào lúc 13h trưa nay, các chiến sĩ bắt đầu làm lễ chuẩn bị cho việc trục vớt quả bom.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 6
Vào lúc 13h45, người nhái đã tiếp cận được quả bom, chuẩn bị tiến hành trục vớt. Sau khi hai người nhái lặn xuống, khoảng 15 phút sau được đưa lên dần.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 7
Quả bom nhô lên khỏi mặt nước lúc 14h. Theo đại diện Bộ tư lệnh Công binh đây là quả bom sót lại từ thời chiến tranh.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 8
Trong lúc đang trục với bom, trên sông xuất hiện một chiếc thuyền chài tiến tới vị trí cầu Long Biên. Ngay lập tức cảnh sát đường thủy tiếp cận yêu cầu chiếc thuyền quay trở lại. Trước đó từ 12h30, lực lượng chức năng đã cấm các phương tiện đường thủy lưu thông qua đây.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 9
Việc lai dắt quả bom dưới nước đi được vài chục mét từ điểm ban đầu. Dự kiến một chiếc cần cẩu sẽ cẩu bom từ dưới nước lên xe chuyên dụng.

14h14, quả bom được di chuyển ra xa khúc sông giữa cầu Chương Dương và cầu Long Biên. Như vậy quả bom đã được lai dắt đi gần 100m so với vị trí ban đầu.


Lai dắt bom về phía Nam, qua cầu Chương Dương.

Lai dắt bom về phía Nam, qua cầu Chương Dương.

14h26, tàu đang tiếp tục lai dắt quả bom qua cầu Chương Dương.

14h45: Tàu lai dắt tiến sát gần bờ, quả bom đang được di chuyển lên bờ.


Quả bom đang được di chuyển lên bờ.

Quả bom đang được di chuyển lên bờ.

14h55: Xe tải cẩu đang cẩu quả bom nặng gần 1,5 tấn lên bờ.

 

Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 10
Khu vực quả bom sẽ được chở tới đang được phong tỏa.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 11
Xe vận chuyển bom của quân đội vào sâu trong ngõ 142 Phú Viên, phường Bồ Đề, quận Long Biên để tiến hành vận chuyển.
Bo doi dang truc vot qua bom sat chan cau Long Bien hinh anh 12
Quả bom nằm cách trụ P13 cầu Long Biên 5 m. Ảnh: Google Maps.
Đăng tải tại Phóng Sự - Ký Sự | Bạn nghĩ gì về bài viết này?